Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Cảnh quan thiên đường

 Đó là những vùng đất có cảnh quan tuyệt sắc, hữu tình và thơ mộng. Với nhiều du khách, đó là niềm mơ ước một lần được đặt chân đến.


Colmar, một thị trấn nhỏ được xây dựng từ thời trung cổ, nép bên dòng sông Rhine ở đông bắc nước Pháp là một trong những nơi yên bình, cổ kính và có phong cảnh lãng mạn nhất thế giới. Trải qua hàng trăm năm, Colmar vẫn còn lưu giữ được nhiều kiến trúc cổ.
Thả bộ trên những con đường náo nhiệt, thưởng ngoạn vô số hoa, cây cảnh ven đường và ngắm nhìn những căn nhà cổ bằng gỗ nhiều màu sắc soi bóng bên dòng kênh xanh được mệnh danh là Venise thu nhỏ... luôn mang lại cảm giác sảng khoái cho du khách.
Tháng 12 hằng năm, các khu phố cổ ở Colmar trở nên lung linh hơn khi các ngôi nhà được trang hoàng rực rỡ. Khắp các nẻo đường Colmar tràn ngập du khách đổ về năm khu chợ bán hàng Giáng sinh.
Colmar, thị trấn nhỏ ở đông nam nước Pháp - Ảnh: PPD
Chợ Noel ở Colmar, thị trấn nhỏ ở đông nam nước Pháp - Ảnh: upperrhinevalley.com
Cánh đồng hoa oải hương ở Luberon, ở Provence thuộc vùng núi Alpes của Pháp giống như một tấm thảm tím biếc thơ mộng ngút mắt và thơm ngát vào mùa hè hằng năm. Đây cũng là khu vực cung cấp nguồn nguyên liệu chế tạo nước hoa của Pháp.
Không chỉ thỏa sức ngắm nhìn, đến đây bạn còn có thể thưởng thức những món ăn được chế biến từ loài hoa này cũng như những đặc sản từ các vườn nho bạt ngàn. Luberon còn được du khách tìm đến để tận hưởng nhịp sống nhẹ nhàng trôi đặc trưng vùng thôn quê vùng ôn đới, được đạp xe hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và đắm chìm trong không khí trầm mặc của những làng mạc hơn ngàn năm tuổi...
Cánh đồng hoa oải hương ở Provence, Pháp - Ảnh: PPD
Thủ đô Berne của Thụy Sĩ là một phần của di sản thế giới bởi giá trị văn hóa lịch sử được bảo tồn nguyên vẹn qua hàng trăm năm. Tại khu phố cổ, bạn sẽ tha hồ khám phá vô số đài phun nước với những kiến trúc cổ, những ngôi nhà có mặt tiền bằng đá sa thạch từ thời trung cổ, những con đường buôn bán có mái vòm nhộn nhịp dài đến 6km hay những tường thành, pháo đài cổ xuôi dốc hướng về phía bờ sông.
Những quán cà phê nhỏ xinh nơi đây cũng là một điểm hẹn của du khách lẫn dân địa phương và gần như tháng nào trong năm cũng có những lễ hội diễn ra tại Berne. Không chỉ là nơi dừng chân lý tưởng, với trị trí trung tâm, Berne còn là điểm xuất phát hoàn hảo cho các chuyến tham quan khắp Thụy Sĩ.
Thủ đô Bern của Thụy Sĩ - Ảnh: PPD
Đường hầm hoa đậu tía ở Nhật. Một trong những nơi tuyệt vời nhất để chiêm ngưỡng hoa đậu tía (có mùi thơm và dạng chùm dài) là công viên hoa Ashikaga ở thành phố Ashikaga, tỉnh Tochigi, với hoa đậu tía đa sắc xanh, trắng, hồng hay hoa kim tước vàng.
Điểm nhấn của công viên là một gốc cây hoa đậu tía to lớn có tuổi đời 100 năm với các nhánh cây buông rủ tạo thành một chiếc dù hoa xanh biếc và một đường hầm dài do những bông hoa đậu tía tạo nên. Gần đó là một đường hầm hoa kim tước vàng đang dần hình thành.
Hoa đậu tía ở công viên hoa Ashikaga nở vào đầu tháng 5. Vào mùa cao điểm, du khách các nơi thường chen nhau về đây để được thả bước trong đường hầm hoa...
Khung cảnh đẹp như mơ trong đường hầm hoa - Ảnh: matinlumineux
Một gốc cây đậu tía trăm năm - Ảnh: lylablue.net
Nhưng trước khi đến công viên hoa Ashikaga, vào trung tuần tháng 4 hàng năm, lúc hoa đậu tía nở khắp các công viên ở Nhật, điểm hẹn sẽ là đường hầm Wisteria ở vườn hoa Kawachi Fuji thuộc Kitakyushu, phía nam nước Nhật và cách Tokyo bốn giờ xe chạy.
Với sự góp mặt của nhiều loại hoa đậu tía khác nhau, đường hầm hoa Wisteria trông giống như một cầu vồng hoa hơn là một công viên. Tại đây, thời gian như ngừng trôi và chỉ một vài tia nắng mặt trời len lỏi vào giữa những thác hoa. Khứu giác và thị giác của du khách sẽ phát huy khả năng tối đa trước bảng màu lộng lẫy và hương hoa thơm ngát từ đường hầm dài.
Đây cũng là một nơi lý tưởng để các đôi tình nhân đắm say trong biển tình của nhau.
* Đường hầm xanh ở Ukraine còn được dân địa phương gọi là Đường hầm tình yêu Kleven. Vào mùa hè, thảm thực vật ở vùng Kleven (tây bắc Ukraine) tạo nên một vòm cây xanh mát trên con đường sắt bỏ hoang dài khoảng một cây số, giúp mọi người quên đi bầu không khí nóng bức. Mỗi mùa trong năm, đường hầm cây lá nhuộm những sắc màu khác nhau, đủ sức níu chân bất kỳ du khách nào lạc bước đến chốn này.
Cũng nhờ vào sự kiến tạo kỳ diệu của thiên nhiên, đường hầm xanh đã giúp Kleven, một khu dân cư chỉ có gần 8.000 người sinh sống được thế giới ít nhiều biết đến. Theo nhận định của nhiều du khách, hiện đường hầm tình yêu Kleven là một trong những nơi lãng mạn nhất thế giới.
Đường hầm tình yêu ở Ukraine - Ảnh: PPD
* Trông giống một con chim khổng lồ bằng đá, núi đá Shiprock được tạo thành từ một núi lửa cũ ở hạt San Juan, vùng Four Corners thuộc bang New Mexico (Mỹ). Đây là chốn linh thiêng của thổ dân da đỏ Navajo. Khu vực núi đá Shiprock tiếp giáp với ba bang Arizona, Colorado và Utah, có những vách đá hình thành từ mạch phún xuất thẳng đứng của núi lửa bao quanh.
Với những người muốn tìm đến cội nguồn thiên nhiên, núi đá Shiprock là một trong những nơi để khám phá, khi đất đá dưới chân núi có niên đại khoảng 27 triệu năm trước, cũng như những phiến đá có hình dạng bất thường hình thành từ nham thạch.
Núi đá Shiprock ở bang New Mexico, Mỹ - Ảnh: PPD
Lễ hội hoa anh đào ở thủ đô Washington của Mỹ là một hoạt động được tổ chức hằng năm kể từ năm 1935. Khoảng tháng 3 hàng năm, hàng triệu du khách bốn phương đổ về Washington D.C để được thỏa sức ngắm hàng ngàn cây hoa đào với nhiều giống khác nhau soi bóng quanh bờ hồ Tidal Basin hay trên dòng sông Potomac.
Gần như ở bất kỳ góc độ nào bạn cũng dễ dàng thu lấy những hình ảnh lộng lẫy của rừng hoa anh đào vào ống kính của mình. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, du khách sẽ được hòa mình vào bầu không khí rộn ràng của các cuộc diễu hành trên đường phố cùng nhiều hoạt động giải trí thú vị khác.
Lễ hội hoa anh đào ở Washington D.C - Ảnh: besthomedecorators.com
Du khách dạo chơi dưới những tàng cây hoa anh đào bên bờ hồ Tidal Basin - Ảnh: news.cn
* Công viên Washintong ở Portland (bang Oregon, Mỹ) có khu vườn Nhật Bản, vườn hoa hồng quốc tế và vườn thú Oregon. Trong đó, khu vườn Nhật Bản ở Portland được xem là một trong những vườn thực vật mang sắc thái nghệ thuật và văn hóa Nhật đặc trưng nhất ở ngoài lãnh thổ Nhật.
Bạn sẽ cảm thấy thời gian như ngừng trôi khi đứng giữa cảnh quan tuyệt sắc tại đây như đỉnh núi Hood phủ đầy tuyết trắng điểm xuyết những ngọn thác nhân tạo đẹp nhất thế giới. Mỗi mùa trong năm, khu vườn Nhật Bản thu hút du khách bằng những vẻ đẹp khác nhau, nhưng mùa thu là thời điểm làn sóng du khách các nơi đổ về đây đông nhất để đắm mình cùng thiên nhiên.
Mỗi mùa trong năm, khu vườn Nhật Bản thu hút du khách bằng những vẻ đẹp khác nhau - Ảnh: desperatecaregivers.com
Kumamoto nằm trên hòn đảo cực nam Kyushu của Nhật nổi tiếng bởi sự kết hợp hoàn hảo của cảnh quan thiên nhiên hoang dã, hệ thực vật phong phú và các sự kiện lịch sử. Kumamoto còn được mệnh danh là "thành phố gỗ và nước mát" khi sở hữu nhiều con sông cùng vô số vườn hoa.
Nếu hệ thống thác nước Gorogataki ở Kumamoto đã khiến không ít du khách sững sờ khi ngắm nhìn thì lâu đài cổ có con sông Shirakawa bao quanh ở trung tâm thành phố Kumamoto khiến người ta liên tưởng đến thời kỳ cực kỳ thịnh vượng từ đầu thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19 của nó. Đến Kumamoto, du khách còn khám phá những cảnh quan thay đổi liên tục trong khu rừng nguyên sinh, những dòng suối trong vắt, chiêm ngưỡng thế giới chim hoang dã...
Thác nước Skogafoss ở thị trấn nhỏ Skogar, miền nam Island. Con sông Skoga đổ xuống các vách đá từ độ cao 62m đã tạo nên một thác nước rộng 25m. Món quà do thiên nhiên ban tặng này đã trở thành một trong những nơi thu hút nhiều du khách nhất Island.
Thác nước Skogafoss, phía nam Island - Ảnh: wiki
ĐAN THY (Theo gentside.com, myswitzerland.com, panoramio, PPD)

Truyền điện bằng laser

Một công ty tại bang Washington (Mỹ) đang phát triển công nghệ không dây hiện đại, cho phép truyền điện bằng tia laser. Công nghệ độc đáo này có thể thay thế hệ thống đường dây điện truyền thống để cung cấp điện cho các hộ gia đình, theo tin tức Reuters đăng tải ngày 12.12. Các nhà khoa học và các kỹ sư thuộc công ty Lasermotive hiện đang dùng tia laser để cung cấp điện cho các máy bay mô hình.
Nhờ công nghệ truyền điện bằng laser, chiếc máy bay mô hình này bay liên tục hơn 12 giờ chỉ bằng pin sạc có thời lượng 5 phút - Ảnh: Reuters Công nghệ tiên tiến này của Lasermotive cho phép biến đổi dòng điện bình thường thành tia sáng, bắn nó vào trong không khí và chuyển hóa nó lại thành điện. Ông Tom Nugent, nhà đồng sáng lập Lasermotive, cho biết trọng tâm nghiên cứu hiện tại của công ty chính là tìm ra cách thức sạc điện từ mặt đất cho máy bay không người lái. “Hiện nguồn điện được truyền tải bằng tia laser có thể giữ cho máy bay không người lái bay lơ lửng trên không trong bao lâu cũng được, tùy theo ý bạn. Điều này rất quan trọng, vì có những trường hợp cần máy bay không người lái bay càng lâu càng tốt”, ông Nugent phát biểu. Công ty Lasermotive cũng đã làm cho một máy bay mô hình bay liên tục trong hơn 12 giờ chỉ bằng pin sạc có thời lượng 5 phút. Lasermotive hiện hợp tác với tập đoàn quốc phòng hàng đầu nước Mỹ Lockheed Martin để phát triển cách thức truyền điện không dây cho mẫu máy bay do thám không người lái Stalker. Tuy nhiên, phía Lasermotive còn hướng tới mục tiêu truyền điện trong không gian. “Nói về mục tiêu dài hạn thực sự thì chúng tôi muốn tiến xa hơn, chẳng hạn như truyền điện từ Trái đất đến các vệ tinh”, ông Nugent cho hay. Với các bước tiến gần đây trong việc thương mại hóa kỹ thuật laser, ông Nugent cho biết nhiều ứng dụng về truyền tải điện không dây đang trở nên thực tế hơn. Hoàng Uy

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Nhà trên cây

Dưới đây là một số những ngôi nhà nổi bật khắp hành tinh:
"Nhà cao tầng" ở Lake Muskoka Ontario (Canada) - Ảnh: Lukasz Kos
Nhà độc nhất Hokuto City, Yamanashi (Nhật Bản) - Ảnh: Akihisa Masuda
Nhà như tổ chim ở New York (Mỹ) - Ảnh: Roderick Wolgamott Romero
Khách sạn UFO ở Harads (Thụy Điển) - Ảnh: Inredningsgruppen
Chỗ thử thách lòng can đảm này nằm ở phía tây nam Irian Jaya (Indonesia) - Ảnh: Harald Melcher / Rubinland
Dãy nhà ở Kaikoura (New Zealand) - Ảnh: Hapuku Lodge
Nhà vách kính được thiết kế bởi Tham & Videgård Arkitekter (Thụy Điển) - Ảnh: Åke E: son Lindman
"Con ngươi giữ rừng" đặt ở Qualicum Bay, British Columbia (Canada) - Ảnh: Tom Chudleigh
Nhà có hành lang lơ lửng tọa lạc tại Araras, São Paulo (Brazil) - Ảnh: Pete Nelson
Chỗ ngủ tuyệt vời này đặt tại Puerto Maldonado, Tambopata (Peru) - Ảnh: Inkaterra
"Ổ phù thủy" này nằm ở Bridgehampton, New York (Mỹ) - Ảnh: Pete Nelson Nguyễn Thủy (theo Telegraph)

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

Bếp lò phát điện

Nhờ khả năng chuyển đổi nhiệt thành điện, một loại bếp lò nhỏ gọn trở thành nguồn cung cấp điện tiện lợi cho điện thoại di động, quạt trong những chuyến dã ngoại.




Nhiệt thừa của CampStove được chuyển đổi thành điện nhờ cỗ máy nhiệt điện bên trong lớp vỏ màu da cam. Ảnh: biolitestove.com.



Mỗi ngày con người đốt củi trong hàng triệu bếp lò trên khắp thế giới để phục vụ nhiều mục đích như nấu nướng, sưởi ấm. Nhiệt từ chúng là nguồn năng lượng khổng lồ, song hầu như chưa được khai thác. BioLite, một công ty của Mỹ, nảy ra ý tưởng chế tạo bếp lò có khả năng tạo ra điện từ nhiệt.



CampStove, tên của loại bếp lò kim loại mới, có dạng hình trụ tròn. Trang web của BioLite cho hay, lò có khối lượng 935 g, chiều cao 21 cm và đường kính 12 cm. Một tấm lưới bao quanh lò để ngăn chặn nguy cơ bỏng do chạm tay vào lò. Không khí được dẫn qua những lỗ nhỏ trong ống kim loại. Ba chân trụ của CampStove có thể gấp gọn. Máy biến nhiệt thành điện được gắn ngay bên cạnh. Cổng USB bên ngoài máy phát điện. Người sử dụng có thể cắm quạt, bóng đèn, điện thoại di động, máy tính bảng và nhiều thiết bị khác vào cổng USB để lấy điện.





CampStove là loại bếp lò lý tưởng cho các hoạt động ngoài trời như cắm trại, hành quân, thám hiểm hay sơ tán vì thiên tai. Ảnh: biolitestove.com.



Bếp lò của BioLite trở thành vật vô cùng hữu dụng trong siêu bão Sandy tại Mỹ, nơi 6 triệu người sống trong cảnh không điện bởi tác động của bão. Nhờ CampStove, một số người vẫn có thể nấu món ăn và sử dụng thiết bị điện.



"Chúng tôi đã nghiên cứu CampStove trong nhiều năm để giúp những người đi dã ngoại hay du lịch không phải mang theo củi, khí đốt hay những dạng nhiên liệu khác. Do CampStove chỉ đốt củi, chã ngô và những loại sinh khối khác thay vì đốt khí gas, nó là một vật tiện lợi và thân thiện với môi trường", Jonathan Cedar, giám đốc điều hành BioLite, phát biểu.



Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy khoảng một nửa dân số thế giới đang dùng bếp lò hàng ngày. Khói độc từ bếp lò là thủ phạm khiến khoảng hai triệu người chết sớm mỗi năm và đẩy nhanh tốc độ ấm lên của địa cầu.



Giá của CampStove tại Mỹ là 129 USD. Sản phẩm sẽ xuất hiện tại các thị trường khác trong thời gian tới.



Minh Long



Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Những điều kỵ khi ăn cà chua

Màu đỏ của cà chua cho thấy hàm lượng vitamin A trong cà chua rất cao, trung bình 100g cà chua chín tươi sẽ đáp ứng được 13% nhu cầu hằng ngày về vitamin A, vitamin B6, vitamin C. Ngoài các vitamin B1, B2, cà chua còn rất giàu các chất vi lượng như canxi, sắt, kali, phospho, magiê, nickel, cobalt, iod, các axid hữu cơ dưới dạng muối citrat, malat... Chính nhờ các yếu tố ấy mà cà chua được xem là một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Sắc tố lycopen có trong cà chua, đặc biệt là ở vỏ, cùng với beta-caroten được xem là những chất chống ôxy hóa mạnh, vừa ngăn chặn tế bào ung thư, vừa chống sự hình thành của các cục máu đông trong thành mạch máu. Lycopen còn có tác dụng chống thoái hóa hoàng điểm, từ đó làm giảm mù lòa. Cà chua là một loại rau rất bổ dưỡng và lành mạnh, có tác dụng tăng cường sức đề kháng của cơ thể, ngăn ngừa và điều trị bệnh suy nhược, chống chống nhiễm trùng. Nhưng không phải cứ ăn cà chua là sẽ bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể.
 Dưới đây là 5 lưu ý khi ăn cà chua:
Thứ nhất, không ăn cà chua và dưa chuột cùng một lúc Tại sao không nên ăn cà chua và dưa chuột cùng một lúc? Lý do là bởi vì dưa chuột chứa một loại enzyme catabolic, sẽ phá hủy hàm lượng vitamin C có trong các loại rau khác. Cà chua là một loại rau có chứa một số lượng lớn vitamin C. Nếu bạn ăn hai loại thực phẩm với nhau, vitamin C trong cà chua sẽ bị phân hủy và bị phá hủy bởi các enzyme catabolic trong dưa leo.
Thứ hai, không nên ăn cà chua khi bạn uống thuốc chống đông máu Cà chua chứa rất nhiều vitamin K. Tác dụng chính của vitamin K là xúc tác cho sự tổng hợp của prothrombin và coagulin trong gan. Vì vậy, nếu bạn ăn cà chua khi dùng thuốc chống đông, nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của các loại thuốc này.
Nếu bạn đang uống thuốc chống đông máu thì không nên ăn cà chua (Ảnh minh họa)
Thứ ba, không nên ăn cà chua khi đói Cà chua có chứa một lượng lớn các chất làm se da hòa tan, sẽ phản ứng với axit dạ dày và đông vào cục u không hòa tan. Những khối u này có thể ngăn chặn các môn vị của dạ dày, dẫn đến đau bụng và khó chịu. Cà chua chứa rất nhiều pectin và nhựa phenolic và các thành phần khác giống như trong quả hồng vàng. Khi ăn cà chua lúc đói, những chất này có thể dễ dàng phản ứng với axit, hình thành các cục không hòa tan, gây ảnh hưởng đến dạ dày, khiến khó chịu. Dạ dày phải tiêu thụ những chất này có thể gây ra đau bụng, nôn mửa và thậm chí là sốc. Do vậy, tuyệt đối không nên ăn cà chua lúc đang đói.
 Thứ tư, không ăn cà chua xanh chưa chín Cà chua xanh, chưa chín có chứa số lượng lớn các yếu tố alkaloid . Khi tiêu thụ nhiều sẽ dễ gây ngộ độc thực phẩm nhiều hơn. Các triệu chứng ngộ độc do ăn cà chua xanh thường là buồn nôn, nôn mửa, tiết nước bọt, yếu sức, mệt mỏi và các triệu chứng khác... thậm chí trường hợp nghiêm trọng có thể đe dọa tính mạng. Các chất độc hại trong cà chua có tên là alkaloid sẽ giảm dần và sẽ biến mất trong cà chua chín đỏ. Do vậy, bạn tuyệt đối không nên ăn cà chua xanh, chưa chín.
 Thứ năm, không ăn cà chua nấu kỹ Nếu cà chua đã được nấu chín trong một thời gian dài, dinh dưỡng và hương vị ban đầu của nó sẽ bị mất. Ngoài ra, nếu bạn ăn cà chua đã bị mất hết chất dinh dưỡng, có thể gây ra ngộ độc thực phẩm, đó là rất nguy hiểm đối với cơ thể con người. Cà chua là một loại rau bổ dưỡng, có chứa lycopene, vitamin C...Do vậy, nếu bạn chú ý và tránh các điều cấm ký trên khi ăn cà chua nó sẽ mang lại nhiều lợi ích sức khỏe của bạn. >> Bắp luộc vỉa hè, người bán không dám ăn >> Suýt mất mạng vì tin thầy lang
                                                                                                           Theo Phạm Minh (VnMedia)
Cách bảo quản cà chua: Cà chua có hàm lượng Vitamin A cao, được sử dụng nhiều vào việc chế biến, làm tăng hương vị và màu sắc món ăn. Muốn giữ chúng được lâu hơn, bạn có thể làm một trong 2 cách sau: Cách 1: Chọn quả chín, vẫn còn cứng, vỏ bóng, rửa sạch rồi hấp chín. Khi chúng đã chín mềm bạn bỏ ra để nguội, nghiền thật nhuyễn rồi lọc bỏ hột. Đem cà chua đun lên sền sệt là được, nhớ bỏ vào một chút muối và cho vào chai. Đun một ít mỡ thật sôi để nguội rồi đổ lên miệng chai. Cách này có thể để được cà chua quanh năm. Cách 2: Chọn những quả chín, vẫn còn cứng, đỏ bóng, đem rửa sạch để khô ráo và xếp lần lượt từng lớp vào trong lọ to, hoặc chum vại. Cứ một lớp muối một lớp cà. Đậy lọ lại cho kín, bảo quản ở những nơi thoáng mát. Với cách này, bạn có thể giữ được cà trong một tháng. ..

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Linh hồn có tồn tại?

- Một chuyên gia về thuyết lượng tử - khẳng định rằng linh hồn con người được chứa bên trong các cấu trúc được gọi là những ống siêu nhỏ của tế bào não. Một số nhà khoa học hàng đầu thế giới vừa tuyên bố họ có thể chứng minh được sự tồn tại của linh hồn. Tiến sĩ Stuart Hameroff - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ý thức của Đại học Arizona tại Mỹ - và nhà vật lý người Anh Roger Penrose - một chuyên gia về thuyết lượng tử - khẳng định rằng linh hồn con người được chứa bên trong các cấu trúc được gọi là những ống siêu nhỏ của tế bào não.
Tiến sĩ Stuart Hameroff. Ý tưởng của họ được nghiên cứu dựa theo lý thuyết từ năm 1996. Theo hai nhà khoa học này, bộ não được ví như máy tính kết nối thành mạng thông tin với 100 tỷ tế bào thần kinh và những sợi siêu nhỏ liên kết. Họ cho rằng kinh nghiệm hay ý thức của chúng ta là kết quả của hiệu ứng hấp dẫn lượng tử bên trong các vi ống của tế bào não. Khi con người cận kề cái chết, các vi ống mất trạng thái lượng tử nhưng những thông tin bên trong chúng không mất đi, hay nói theo cách khác như con người vẫn gọi đó là linh hồn không mất đi mà trở lại với vũ trụ.
Linh hồn của con người nằm trong những ống siêu nhỏ của tế bào não Tiến sĩ Hameroff giải thích: “Khi máu ngừng chảy, tim ngừng đập, vi ống sẽ mất trạng thái lượng tử của nó. Nhưng các thông tin lượng tử trong nó không bị tiêu diệt, nó không thể bị phá hủy, nó chỉ phân phối lại trong vũ trụ rộng lớn. Nếu bệnh nhân sống lại hay còn gọi là được hồi sinh, những thông tin này sẽ trở lại trong vi ống và bệnh nhân nói: “Tôi có cảm giác như cận kề cái chết”. “Còn nếu trong trường hợp bệnh nhân đó tử vong, thông tin lượng tử này có thể tồn tại bên ngoài cơ thể một cách vô hạn và người ta vẫn gọi đó là linh hồn”, ông Hameroff cho biết thêm. Công bố mới này của hai nhà nghiên cứu này đang gây ra tranh cãi gay gắt trong giới khoa học khắp thế giới. Tuy nhiên, hai nhà khoa học này tin rằng những phát hiện mới về vai trò của lượng tử trong quá trình sinh học như quang hợp, thở hay sự định hướng của loài chim là một bằng chứng đầy thuyết phục cho lý thuyết của họ. Theo Người Lao Động

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

ĐỨC-THÁNH-LINH TRONG HỘI-HỌP,HỘI-NGHỊ

(GIAO-TIẾP ỨNG-XỬ SUY-NGHĨ) Không thể chỉ-đạo,lãnh-đạo thành-công,thắng-lợi khi chối bỏ vai trò của ĐTL. Kẻ không có lương-tri,lương tâm luôn tìm cách dập-tắt ĐTL vì Kinh Thánh nói : ĐTL như gió,như lửa ta không biết đến từ đâu và sẽ đi đâu,sự hiện diện của ĐTL trên mỗi con-người ,trong hội-họp,hội-nghị bất-ngờ,ngoài ý muốn,chỉ khi cần thiết,cấp-thiết ; vì sự rối-ren,bất-hòa do “tà-linh”phát-triển. -“Sự sáng phải từ sự tối-tăm soi ra,nhưng tối-tăm không tiếp nhận sự-sáng” Trích-lời Chúa Jesus trong Kinh-Thánh. Luật pháp,đạo-lý giúp phân-định sai-trái,thiện-ác, nhưng người không có đức-tin,lòng-tin vào ĐTL không có lương-tri,lương-tâm trong-sáng,thường chỉ đạo,lãnh-đạo không sáng-suốt,nhạy-bén.Trong tranh-luận,tranh-cãi, chỉ dựa vào văn-tự,chử-nghĩa,tri-thức,triết-lý,lý-luận cá-nhân,bè-phái,phe-phái dễ đi đến bế-tắc,khó hòa-giãi,hòa-hợp, không thành-công và thắng lợi (không tới đâu)Nhưng ĐTL làm cho sống-động,linh-động,năng-động ! Vai trò ĐTL dẫn đến sự hiệp-nhất,thống-nhất,vui-vẽ,bác-ái chan-hòa,còn Tà-linh và ý người (lý-trí,tri-thức) dẫn đến sự chia rẽ,bất hòa,đau-buồn,thất-bại,thiệt-hại. ĐTL giúp ta bảo-vệ hòa-bình,phát-triển . -Như tình-yêu thì gây-dựng(xây-dựng),tri-thức khiến lên-mặt,tự-cao.(Saint Paul )-Những mỹ-đức,kết quả từ hiện-diện của ĐTL trong tâm-tư con người biểu-hiện ra:Sự yêu thương,vui-mừng,bình-an,nhịn-nhục,nhân-từ,hiền-lành,trung-tín,mềm-mại,tiết-độ (tiết-chế) Ngược lại là:gian dâm,ô-uế,luông tuồng,thờ hình-tượng,phù-phép,thù-oán,tranh-đấu,ghen-ghét,buồn-giận,cãi-lẫy,bất-bình,bè-đảng,ganh-gổ,say-sưa,mê ăn-uống… -Đấng-Tối-Cao chống trả kẻ tự-cao , ban ơn (ĐTL)cho kẻ khiêm-nhường .(Phúc-Âm) -“Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên,ai tự nâng lên sẽ bị hạ xuống.” Chúa Cứu Thế Jesus đã phán ! HALELUJA! HALELUJA ! HALELUJA !

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

BƯỚC CÙNG ĐỨC THÁNH LINH.

Không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời. – 1 Cô-rinh-tô 2:11 Khi trích từ bài Tín Điều Các sứ Đồ, chúng ta nói “Tôi tin Đức Thánh Linh.” Tác giả J.B. Philip nói, “Mỗi lần chúng ta nói (điều này) hàm ý rằng chúng ta tin (Thánh Linh) là một Chúa hằng sống, có khả năng và sẵn sàng bước vào tính cách của con người để thay đổi nó.” Đôi khi chúng ta quên rằng Đức Thánh Linh không phải là một lực phi nhân cách. Kinh Thánh mô tả Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài sở hữu những thuộc tính của Đức Chúa Trời: Ngài hiện diện khắp nơi (Thi Thiên 139:7-8), Ngài biết mọi việc (1 Cô-rinh-tô 2:10-11), và Ngài có quyền năng vô hạn (Lu-ca 1:35). Ngài cũng có thể làm mọi việc mà chỉ Đức Chúa Trời có thể làm: tạo dựng (Sáng Thế Ký 1:2) và ban sự sống (Rô-ma 8:2). Ngài bình đẳng trên mọi phương diện với các Thân vị khác trong Ba Ngôi Chúa Cha và Chúa Con. Đức Thánh Linh là một Thân vị gắn bó với chúng ta cách cá nhân. Ngài đau lòng khi chúng ta phạm tội (Ê-phê-sô 4:30). Ngài dạy dỗ chúng ta (1 Cô-rinh-tô 2:13), cầu nguyện cho chúng ta (Rô-ma 8:26), hướng dẫn chúng ta (Giăng 16:13), ban cho chúng ta ân tứ thuộc linh (1 Cô-rinh-tô 12:11), và bảo đảm sự cứu rỗi cho chúng ta (Rô-ma 8:16). Đức Thánh Linh sống trong chúng ta nếu chúng ta tiếp nhận sự tha tội qua Chúa Giê-xu. Ngài khao khát thay đổi chúng ta để chúng ta ngày càng giống Chúa Giê-xu hơn. Hãy cộng tác với Thánh Linh bằng việc đọc Lời Ngài và nhờ cậy năng quyền của Ngài để làm theo những gì chúng ta học được. – Marvin Williams Cơ Đốc nhân xao lãng Đức Thánh Linh giống như đèn không cắm vào ổ điện. Khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trên đất, Ngài là một thân vị của Đức Chúa Trời nhưng con người có thể thiết lập được mối tương giao gần gủi với Ngài. Ngài đã đến giới thiệu Đức Chúa Trời cho con người. Ngài bảo Phi Líp: Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha… Ta với Cha là một (Giăng 14:9; 10:30). Chúa Jesus là Đức Chúa Trời mang thân xác con người trên đất. Đầu tiên các môn đồ không nhận ra điều nầy. Nhưng sau đó, khi bước đi cùng với thầy của mình họ nhận ra: Ngài chính là Đức Chúa Trời. Khi họ chạm vào vai của Ngài họ đang chạm vào Đức Chúa Trời. Khi Chúa Jesus nói chuyện cùng họ, họ đang nghe chính Lời của Đức Chúa Trời. Họ cũng nhìn thấy thế nào Chúa bày tỏ lòng thương xót đối với những người bệnh – họ biết được tấm lòng của Đức Chúa Trời. Khi họ nhìn thấy Chúa dùng roi đuổi những kẻ đổi tiền ra khỏi đền thờ, họ biết được sự nghiêm khắc của Chúa trên những con người mang danh tôn giáo để trục lợi. Chúa muốn làm sạch đền thờ và đem con người vào trong mối tương giao mật thiết, trong sáng với Đức Chúa Trời. Khi họ nhìn thấy Chúa khóc về thành Giê ru sa lem, bởi vì dân sự trong đó đã quên đi tình yêu đối với Đức Chúa Trời, không nắm lấy cơ hội tiếp nhận ơn cứu rỗi. Họ biết tấm lòng của Đức Chúa Trời tan vỡ trước những cơ hội mà con người đã đánh mất. Trong hơn 30 năm sống trên đất, Chúa Jesus đã dạy dỗ và uỷ thác cho các môn đồ những mạng lệnh. Nhưng khi Ngài thăng thiên trở về trời, họ sẽ được hướng dẫn trong một đường lối mới: thông qua Đức Thánh Linh họ sẽ nhận được những chỉ thị từ Chúa. Đã đến lúc chúng ta phải hiểu thấu điều nầy: Đức Thánh Linh là người đại diện chính thức của Đức Chúa Trời vận hành trong thế giới ngày nay. Ngài là thân vị của Đức Chúa Trời mà chúng ta phải tiếp cận Ngài trong mối quan hệ thân thiết nhất. Ngài là Thần Linh ngự trong tập thể các tín hữu – là cô dâu của Đấng Christ, để sẵn sàng trình diện Hội Thánh cho Đức Chúa Trời. Và Hội Thánh nhờ quyền năng Đức Thánh Linh để làm công việc của Đức Chúa Trời trong thế giới nầy. Đức Thánh Linh được gọi là Thần yên ủi, luôn ở bên cạnh để giúp đỡ chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Ngài trở thành năng lực của chúng ta. Ngài đang ở đây, là Đấng cung cấp mọi sự. Ngài chăm sóc mọi nhu cầu cần thiết trong đời sống chúng ta. Dù nhu cầu đó là gì thì Ngài là người luôn giúp đỡ. Ngài đã được sai đến để giúp đỡ chúng ta. Đức Thánh Linh khao khát có mối quan hệ riêng tư với tất cả chúng ta. Ngài muốn ở bên cạnh chúng ta trong mỗi tình huống chúng ta đối diện. Đây là điều vô cùng quan trọng để chúng ta có thể đến cùng Ngài, hiểu biết Ngài như một cá nhân và kinh nghiệm sự đầy đủ của Ngài. Chỉ bằng phương cách đó chúng ta có thể biết Ngài là Đấng yên ủi, giúp đỡ và sức mạnh của chúng ta trong mọi sự. HY VỌNG CỦA TÔI VỀ QUYỂN SÁCH NẦY Mục đích của quyển sách nầy là giúp bạn biết rõ về Đức Thánh Linh để bạn có thể vui hưởng một mối tương giao đầy trọn với Ngài. Niềm ao ước tha thiết của tôi là giới thiệu vinh hiển và vẻ đẹp của Ngài hầu cho bạn có thể kinh nghiệm về Ngài là sự đầy đủ trong cuộc đời của bạn. Bạn có thể trải nghiệm cá nhân về ân điển, tình yêu, quyền năng và những ân tứ của Ngài. Đức Chúa Trời muốn chúng ta không chỉ hiểu biết về Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ, nhưng cũng kinh nghiệm Ngài trong tình yêu, sự chăm sóc qua sự chết của Con Ngài. Chúa Jesus đã kéo chúng ta vào trong mối thông công mật thiết với Ngài xuyên qua một thân vị đầy quyền năng là Đức Thánh Linh. Tôi cầu nguyện Chúa dùng quyển sách nầy dấy lên trong bạn một ham muốn mãnh liệt, đói khát để bước theo Đức Thánh Linh. Bạn sẽ khám phá một mối liên hệ cá nhân, thắm thiết và sâu nhiệm với Đức Thánh Linh đến nỗi cuộc sống của bạn sẽ được biến đổi bởi quyền năng Ngài. Tôi cầu nguyện là bạn sẽ lệ thuộc vào Ngài để tìm kiếm sự hướng dẫn, sức khỏe, sức mạnh, sự yên ủi, sự khôn ngoan và quyền năng. Và tôi cũng cầu nguyện để Ngài trở nên gần gủi với bạn hơn tất cả những ai mà bạn đã từng biết trước đây và rồi bạn sẽ chìm đắm trong sự vinh hiển của Ngài – được biến đổi để trở nên giống như hình ảnh của Đấng Christ. Những điều hấp dẫn vẫn còn nằm ở những trang sau. Nhưng dĩ nhiên bạn không cần chờ đợi đến cuối trang mới nhận lãnh được phước hạnh. Ngay bây giờ bạn có thể giao cho Ngài quyền kiểm soát và để Ngài đổ đầy bạn. Tôi thúc giục bạn hãy quyết định giao thác cuộc đời bạn trong tay Ngài. Rồi thì bạn có thể bắt đầu vui hưởng niềm vinh hạnh được bước đi cùng Đức Thánh Linh, thỏa mãn trong sự đầy đủ trọn vẹn mà Đức Chúa Trời đã dành sẵn cho mỗi chúng ta. PHẦN MỘT ĐỨC THÁNH LINH LÀ AI? CÒN HƠN CẢ MỘT THÂN VỊ. Ta sẽ cầu xin Cha và Cha sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác để ở với các ngươi đời đời. Ngài là Thần Chân lý mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì thế gian không thấy Ngài và không biết Ngài. Nhưng các ngươi biết Ngài vì Ngài ở với các ngươi, và Ngài sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:16-17) Chúa Jesus là một Đấng vĩ đại trong suốt những năm sống trên đất. Người ta học tập để tin cậy Ngài là chủ nhân – Đấng nắm quyền kiểm soát trong mọi hoàn cảnh. Khi bạn được Ngài chăm sóc bạn không cần phải lo lắng về bất cứ điều gì, vì bạn biết rằng Ngài sẽ lo toan mọi sự. Những ai mà đã từng ở với Ngài trong một thời gian dài đều biết rằng Ngài có thể xử lý tất cả mọi tình huống xảy đến. Những người thâu thuế đền thờ hỏi Phi e rơ rằng: Thầy ngươi có nộp tiền thuế chăng? Không thành vấn đề. Chúa đã có sẵn giải pháp. Ngài bảo Phierơ: Hãy ra ngoài biển câu cá, banh miệng nó ra lấy một đồng tiền đóng thuế cho ta với ngươi. Kỳ diệu thay Ngài kiểm soát và xử lý mọi hoàn cảnh! Giả định là bạn đang ở trong một đoàn dân đông vây quanh Chúa và bạn lại không có đủ lương thực để ban phát! Không cần lo lắng. Đã có một cậu bé với năm cái bánh và hai con cá. Hãy ngồi xuống thành từng hàng và Ngài sẽ phát bánh cho tất cả. Sau khi đã ăn no xong bạn có thể thu lại mười hai giỏ đầy. Chúa biết cách xử lý mọi hoàn cảnh! Một lần khác những người Pha ri si tìm cách bắt bẻ Ngài qua một số câu hỏi “kỹ thuật chuyên môn” gài bẫy của họ. Đừng sợ hãi toát mồ hôi. Chúa Jesus sẽ xử lý tất cả. Ngài đang kiểm soát, điều khiển mọi hoàn cảnh. Được rồi, còn bây giờ bạn đang ở trong một cơn bão biển và tàu thì sắp chìm. Làm sao đây? Chúa Jesus có quyền năng trên bão lớn và đưa bạn đến bến bờ an toàn. Kỳ diệu thay Ngài rất gần bạn. Đấng vĩ đại đang ở đó trong mọi tình huống bạn đối diện. Đó là những bài học mà các môn đồ đã học đi học lại trong suốt ba năm kỳ diệu ở với Thầy. Họ khám phá rằng Thầy của họ là Đấng có khả năng giải quyết mọi nan đề. Họ không cần phải lo lắng khi Chúa Jesus có mặt ở đó. Họ biết chắc Chúa có sẵn giải pháp. GIÓ ĐÃ ĐỔI CHIỀU Đến chương 14 Phúc Âm Giăng đã có vài sự thay đổi ở đây. Chúa Jesus nói rõ là Ngài phải bị đóng đinh trên thập tự giá. Các môn đồ không thể hiểu được điều nầy. Tuy nhiên họ bị bối rối từ những lời nói của Ngài. Họ không muốn Ngài phải ra đi và tấm lòng của họ dao động, sợ hãi. Chúa phán cùng họ: Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. Điều nầy ngụ ý là họ đang ở trong sự bối rối, lo sợ. Họ tự hỏi: Chúng ta sẽ làm gì nếu không có Chúa Jesus? Vì thế Chúa Jesus đã trả lời câu hỏi sâu xa trong lòng của họ. Ta sẽ nài xin Cha và Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác để ở với các ngươi đời đời. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể nhận được, vì thế gian không thấy Ngài và không biết Ngài. Nhưng các ngươi biết Ngài vì Ngài ở với các ngươi và Ngài sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:16-17) Đây là điểm chính trong Phúc Âm Giăng. Chúa Jesus đang nói với các bạn hữu Ngài: Ta sẽ đi xa và nơi Ta đi các ngươi không thể đến được vào lúc nầy. Nhưng đừng lo lắng. Ta sẽ sắm sẵn cho các ngươi một chỗ, và rồi Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta. Trong khi chờ đợi Ta không để các ngươi mất đi sự yên ủi. Ta sẽ không để cho các ngươi không có bất kỳ sự giúp đỡ nào. Ta sẽ nài xin Cha ban cho các ngươi một thân vị khác ở bên cạnh để giúp đỡ các ngươi. Ta sẽ không bỏ rơi các ngươi. Ta sẽ không để các ngươi mồ côi. Tiếng Hy Lạp dịch chữ “mất sự yên ủi” trong Giăng 14:18 là mồ côi. Ta không để các ngươi mồ côi. Chúa Jesus đã nói với các bạn hữu Ngài như thế. Và để giữ lời hứa đó Chúa phán rằng Ngài sẽ nài xin Cha ban cho các môn đồ một Đấng Yên Ủi khác. Trong tiếng Hy Lạp, Đấng Yên Ủi là PARAKLETOS. Para là một giới từ có nghĩa: ở với hay ở bên cạnh. Trong khi KLETOS có nghĩa là được gọi đến. (Parakletos – Đấng được gọi đến bên cạnh để giúp đỡ). Vì thế ở đây chúng ta phải hiểu là: Chúa Jesus đang nói với các bạn hữu của Ngài – Chúa sẽ nài xin Cha ban cho họ một Đấng giúp đỡ khác đến bên cạnh và giúp đỡ họ. Và sự giúp đỡ họ tiếp nhận cũng giống như sự giúp đỡ mà chính Ngài đã từng giúp đỡ họ trước đây. Nói cách khác Đấng Yên Ủi và Ngài là một. ĐẤNG ĐẶC BIỆT ĐƯỢC SAI ĐẾN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Đức Thánh Linh chính là Đức Chúa Trời, Ngài là một thân vị mà bạn có thể vui hưởng mối liên hệ cá nhân với Ngài. Ngài không chỉ đơn thuần là một quyền năng siêu nhiên tồn tại trong vũ trụ, nhưng Ngài giống như một thân vị (con người) là Ngài có thể trò chuyện với bạn và bạn cũng có thể nói chuyện với Ngài. Ngài là một thân vị mà có thể hướng dẫn, giúp đỡ, gây dựng và dạy bạn lẽ thật của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh là Đấng được sai đến từ Đức Chúa Trời tiếp tục công tác của Ngài trong đời sống các tín hữu, trong Hội Thánh và thế giới ngày nay. Đó là lý do tại sao chúng ta phải trở nên quen thuộc với Đức Thánh Linh. Vì Ngài chính là Đấng mà Đức Chúa Trời đã đặt để trên Hội Thánh để hướng dẫn, chỉ đạo và ban quyền năng cho các hoạt động của Hội Thánh. Khi Chúa Jesus phán với các môn đồ: Ta sẽ cầu xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên Ủi khác để ở với các ngươi đời đời (Giăng 14:16). Chúa đang khích lệ các môn đồ của Ngài chuẩn bị một đường lối mới mà về sau nầy Chúa sẽ liên hệ với họ. Một đường lối mới nhưng không phải là một đường lối hoàn toàn xa lạ. Trong tiếng Hy Lạp, từ “khác” trong cụm từ “Đấng Yên Ủi khác” là ALLOS. Từ nầy có nghĩa: cùng một loại hay ngang bằng về phẩm chất; khác nhưng cùng giai cấp”. Một từ thứ hai trong tiếng Hy Lạp là HETEROS cũng được dịch là “khác” nhưng nó có nghĩa: khác biệt về phẩm chất. Giả định là bạn đã có một dự định thuê một chiếc xe hơi Ford. Khi bạn đến quầy thu tiền, người phụ trách nói: Xin lỗi, chúng tôi không còn loại xe đó ,chúng tôi sẽ giao cho ông một chiếc xe khác (heteros), chiếc Toyota có cùng một giá tiền nhưng có sự khác biệt về phẩm chất, ông có chấp nhận không? Trong trường hợp nầy chiếc Toyota đã không có cùng một chất lượng giống như chiếc Ford. Nó là một chiếc xe khác – HETEROS. Nhưng nếu người phụ trách cho thuê xe nói: Xe Ford chúng tôi không còn chúng tôi sẽ giao cho ông một chiếc xe khác, ngang bằng về chất lượng – có cùng phẩm chất giống như chiếc Ford. Trong trường hợp nầy chiếc xe khác ở đây chính là ALLOS. Khi Chúa Jesus nói Đức Thánh Linh có cùng một phẩm chất như chính Ngài Ngài ngụ ý rằng Đức Thánh Linh có những phẩm chất cần thiết giống như chính Ngài đã có, đặc biệt là những phẩm chất thần thượng và con người.Thực ra Ngài đã phán với các môn đồ: Ta vẫn ở cùng các ngươi nhưng bây giờ Ta chuẩn bị đi xa .Thế nhưng Ta không để các ngươi cô đơn.Ta sẽ nài xin Cha ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác là ALLOS. Đấng yên ủi nầy cùng một đẳng cấp với Ta. Trước đây Ta ở cùng các ngươi và chăm sóc các ngươi trong mọi hoàn cảnh thể nào thì bây giờ Đức Thánh Linh sẽ tiếp tục ở cùng các ngươi và chăm sóc các ngươi trong mọi hoàn cảnh thể ấy. ĐỨC THÁNH LINH LÀ MỘT THÂN VỊ? Chúng ta cần một sự thấu hiểu rõ ràng về Đức Thánh Linh và công tác của Ngài. Điều trước tiên chúng ta cần biết Đức Thánh Linh chính thực là một thân vị, chúng ta cần nhận ra điều nầy nếu chúng ta muốn có một mối liên hệ cá nhân với Ngài. Nếu bạn nghĩ về Đức Thánh Linh như là một sức mạnh, một quyền năng thì bạn sẽ tìm kiếm điều đó trong mối liên hệ cá nhân với Ngài. Bạn không thể thiết lập mối liên hệ có ý nghĩa với một nguồn quyền năng. Có bao giờ bạn thử liên lạc với một con người bằng một ổ cắm điện? Một tua bin hơi nước hay một động cơ ô tô? Dĩ nhiên là bạn không thể làm điều đó.Ý tưởng nầy là vô lý. Điều nầy cũng ngớ ngẩn giống như khi bạn nghĩ về Đức Thánh Linh như là một quyền năng siêu nhiên lạnh lùng lan tỏa trong vũ trụ và mặc dù vậy bạn vẫn hy vọng sự trợ giúp của Ngài trong mỗi nhu cầu của bạn. Đức Thánh Linh là một thân vị được sai đến từ Đức Chúa Trời qua lời thỉnh cầu của Chúa Jesus. Ngài đến ở bên bạn để giúp đỡ bạn. Chúa Jesus đã nói: Ta sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác ….Ngài là Thần Lẽ Thật. Chuck Smith Translated by Hon Pham ————————- http://paulhon.wordpress.com/2011/10/11/vinh-h%E1%BA%A1nh-b%C6%B0%E1%BB%9Bc-di-cung-d%E1%BB%A9c-thanh-linh/

Thánh Linh Sống Động trong Lòng

Khi chúng ta mời Đức Thánh Linh làm tràn đầy tâm trí mình với ánh sáng và sự hiểu biết, thì Ngài “làm chúng ta sống động,” có nghĩa là, soi sáng và làm trong lòng của người đàn ông hay phụ nữ được phấn chấn.
Keith Karlton Hilbig Thuộc Nhóm Túc Số Thầy Bảy Mươi Trong chương 5 của sách 1 Tê Sa Lô Ni Ca, Phao Lô đã khuyên bảo các tín hữu phải hành động giống như việc trở thành Thánh Hữu. Ông tiếp tục liệt kê các thuộc tính và hành vi thích đáng. Trong câu 19 Phao Lô khuyên dạy với năm từ giản dị này: “Chớ dập tắt Thánh Linh.” Thú vị thay, 500 năm trước khi bài viết của Phao Lô, một vị tiên tri trong Sách Mặc Môn tên là Gia Cốp đã tìm cách giảng dạy phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô cho một dân tộc hay chống đối. Ông đã mạnh dạn hỏi họ như sau: “Lẽ nào các người lại bác bỏ những lời của các vị tiên tri; và lẽ nào các người . . . lại bác bỏ những lời tốt đẹp của Đấng Ky Tô, . . . cùng ân tứ Đức Thánh Linh, và lại dập tắt Thánh Linh?”1 Trong thời kỳ của chúng ta, rất nhiều thế kỷ sau cả Gia Cốp lẫn Phao Lô, chúng ta cũng phải cẩn thận đừng cản trở, coi thường, hoặc dập tắt Thánh Linh trong cuộc sống của mình. Những lời mời gọi đầy lôi cuốn của thế gian cố gắng hướng sự chú ý của chúng ta ra khỏi con đường chật và hẹp. Kẻ nghịch thù gắng công làm cùn đi sự nhạy cảm của chúng ta đối với những sự thúc giục của Thánh Linh, bất luận chúng ta là một thiếu niên, người thành niên trẻ, hoặc một người đàn ông hay người phụ nữ đã trưởng thành. Vai trò của Thánh Linh, Đức Thánh Linh, là thiết yếu trong mỗi thời kỳ của cuộc sống trần thế của chúng ta. Từ lúc đầu, Đức Chúa Cha đã hứa với mỗi con trai và con gái linh hồn của Ngài rằng qua Sự Chuộc Tội và Sự Phục Sinh của Con Trai Yêu Quý của Ngài, chúng ta đều có thể trở lại nơi hiện diện của Thượng Đế và thừa hưởng các phước lành của cuộc sống vĩnh cửu trong đẳng cấp cao nhất của thượng thiên giới. Mỗi chúng ta đều biết rằng cuộc hành trình đến sự tôn cao sẽ dài, vất vả, và đôi khi cô đơn, nhưng chúng ta cũng biết rằng chúng ta sẽ không hành trình một mình. Cha Thiên Thượng cung ứng cho tất cả những ai làm tròn những điều kiện tiên quyết về đức tin, sự hối cải, và phép báp têm với một Đấng đồng hành và hướng dẫn, Đức Thánh Linh. Con đường dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu không phải ở trên một trạng thái bình ổn. Đúng hơn, đó là một con đường dốc, luôn luôn hướng tới và đi lên. Do đó, sự hiểu biết và nghị lực luôn luôn phát triển của phần thuộc linh cần phải có để đạt tới đích của chúng ta. Vì sự chống đối độc hại của Sa Tan tiếp tục, nên sự soi dẫn liên tục của Đức Thánh Linh là hoàn toàn thiết yếu. Chúng ta không dám cản trở, xem thường hay dập tắt những sự thúc giục của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, đối với việc cần đến những sự thúc giục và các phước lành tuôn chảy từ Đức Thánh Linh, thì chúng ta thường “hài lòng với cuộc sống ít đặc ân hơn chúng ta có thể nhận được.”2 Trong Sách Trân Châu Vô Giá, Môi Se chép rằng A Đam, sau khi đã chịu phép báp têm và tiếp nhận Đức Thánh Linh, “trở nên sống động trong lòng.”3 Khi chúng ta mời Đức Thánh Linh làm tràn đầy tâm trí mình với ánh sáng và sự hiểu biết, thì Ngài “làm chúng ta sống động,” có nghĩa là, soi sáng và làm trong lòng của người đàn ông hay phụ nữ được phấn chấn.4 Do đó, chúng ta nhận thấy một sự khác biệt đáng kể trong tâm hồn mình. Chúng ta cảm thấy được củng cố, đầy dẫy sự bình an và niềm vui. Chúng ta có được nghị lực và sự nhiệt tình thuộc linh, cả hai điều đó sẽ gia tăng các tài năng bẩm sinh của chúng ta. Chúng ta có thể thành đạt nhiều hơn là chúng ta tự làm. Chúng ta mong muốn trở thành một người thánh thiện hơn. Các anh chị em có muốn biết cái giá phải trả cho các đặc ân được ban cho sau khi chúng ta tiếp nhận Đức Thánh Linh không? Cái giá đó không phải là đã được định trước hoặc cố định mà nó được định đoạt bởi cá nhân của mỗi người chúng ta. Nếu các anh chị em định ra cái giá mình phải trả, tức là nỗ lực cá nhân của mình, rất thấp thì có lẽ các anh chị em không thể nhận được tất cả sự giúp đỡ mà Thánh Linh ban cho. Các anh chị em có lẽ còn dập tắt Thánh Linh nữa! Tuy nhiên, nếu các anh chị em đặt giá cao cho phần đóng góp cá nhân của mình, thì các anh chị em sẽ thu hoạch mùa gặt một cách dồi dào từ Thánh Linh. Cái giá mà tôi ám chỉ đến không phải là tiền bạc mà đó là một sự cam kết chắc chắn hơn và sự tham gia bằng những nỗ lực và hành vi về phần thuộc linh của cá nhân. Chúng ta định ra mức độ đóng góp hiện tại của cá nhân mình bằng cách xem xét những sự chọn lựa và ưu tiên hiện tại của mình dựa vào những câu hỏi như sau: • Tôi có dành nhiều thì giờ cho thể thao hơn cho việc đi nhà thờ hay những sự kêu gọi trong nhà thờ không? • Nếu có một ngày rảnh rỗi, thì tôi chọn để tham dự đền thờ hay đi mua sắm trong thương xá? • Tôi thường chơi trò chơi trên máy vi tính hoặc tìm kiếm trên mạng Internet thay vì phục vụ đầy ý nghĩa cho những người khác trong nhà và trong cộng đồng của tôi không? • Tôi có đọc nhật báo đều đặn nhưng lại thấy rất khó để đọc thánh thư hằng ngày không? Có những câu hỏi khác các anh chị em có thể đặt ra mà sẽ cho thấy sự thích đáng của những sự chọn lựa và ưu tiên hiện nay của các anh chị em. Bất luận mức độ phát triển phần thuộc linh mà mỗi người chúng ta hiện có thể có thì vẫn luôn luôn có một mức độ cao hơn trong tầm tay của chúng ta. Thời giờ là quý báu nhất. Các anh chị em có cân nhắc việc đầu tư thời giờ của mình nhiều hơn vào những sự việc thuộc linh để xứng đáng với sự đồng hành liên tục của Đức Thánh Linh và thụ hưởng trọn vẹn ảnh hưởng của Ngài không? Nếu câu trả lời của các anh chị em là có, thì cái giá ban đầu trong việc theo đuổi nếp sống thuộc linh sâu xa hơn là một ước muốn đầy mãnh liệt để nhận được sự soi dẫn cao quý hơn, để trở nên thánh thiện hơn. Khi ước muốn này dâng tràn trong lòng mình, thì chúng ta sẽ nôn nóng muốn tăng thêm cái giá mà chúng ta trả cho sự giúp đỡ của thiên thượng. Sự đóng góp kế tiếp của chúng ta cho nỗ lực này sẽ là kiên trì đắm mình trong những lời của Đấng Ky Tô và của các vị tiên tri. Khi nỗ lực học hỏi của chúng ta được phát huy, thì ảnh hưởng mạnh mẽ của Đức Thánh Linh cũng sẽ gia tăng trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta hãy “tra cứu” thánh thư với cây viết trong tay, ghi chú những điều hiểu biết mới và ghi lại những sự thúc giục của Thánh Linh. Sau đó, chúng ta hãy cố gắng áp dụng điều đã học được vào cuộc sống cá nhân của mình. Thánh Linh sẽ tác động tấm lòng chúng ta; điều hiểu biết mới sẽ đến theo từng lời giáo huấn một. Để chắc chắn rằng chúng ta không dập tắt Thánh Linh, mà thay vì thế mời gọi sự hiện diện của Ngài, thì có một bước khác để thực hiện. Chúng ta hãy cầu nguyện thường xuyên và khẩn thiết. Lời hứa dịu dàng và bao hàm của Đấng Cứu Rỗi đã được chép trong sách Giáo Lý và Giao Ước: • “Hãy lại gần ta, rồi ta sẽ đến gần các ngươi.” • “Hãy tận tụy tìm kiếm ta, rồi các ngươi tìm thấy ta.” • “Hãy cầu xin, rồi các ngươi sẽ nhận được.” • “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở cho các ngươi.” • “Những gì các ngươi cầu xin Đức Chúa Cha trong danh ta thì các ngươi sẽ được ban cho.”5 Thưa các anh chị em, hãy lưu ý đến trình tự đó. Chúng ta xích lại gần Đấng Cứu Rỗi hơn khi chúng ta tuân giữ các giáo lệnh của Ngài một cách chính xác. Chúng ta tha thiết khẩn cầu Đức Chúa Cha trong danh của Đấng Ky Tô. Rồi, qua những sự thúc giục của Đức Thánh Linh, chúng ta nhận được sự hướng dẫn thiêng liêng và sự hiểu biết rõ ràng. Khi chúng ta nhịn ăn, tái lập các giao ước của mình tại lễ Tiệc Thánh, và tham dự đền thờ, thì chúng ta tiếp cận với Thánh Linh nhiều hơn. Trong những bối cảnh này, Đức Thánh Linh có thể biểu hiện ảnh hưởng của Ngài với một tác động lớn. Đền thờ là một môi trường kỳ diệu để tìm kiếm sự mặc khải cá nhân. Khi chúng ta cố gắng thường xuyên và lắng nghe một cách thận trọng thì chúng ta ra về với sự hiểu biết gia tăng về kế hoạch của Cha Thiên Thượng dành cho chúng ta. Đức Thánh Linh nới rộng tầm nhìn của chúng ta và để cho viễn cảnh vĩnh cửu đó ảnh hưởng đến những quyết định mà chúng ta có trong cuộc sống hằng ngày của mình. Nếu chúng ta đảm nhận nỗ lực này và không dập tắt Thánh Linh, thì tấm lòng chúng ta sẽ được tác động. Khi chúng ta kiên trì, thì cuộc sống vĩnh cửu đang chờ đợi chúng ta. Do đó, chúng ta chớ dập tắt Thánh Linh qua sự bất tuân hoặc sao lãng. Thay vì thế, chúng ta hãy “nhờ Thánh Linh mà sống,”6 bằng cách phát huy vai trò thiêng liêng và thiết yếu của Đức Thánh Linh trong cuộc sống cá nhân của mình. Tôi làm chứng rằng khi chúng ta tìm kiếm Thánh Linh, thì chúng ta sẽ được lợi ích một cách trọn vẹn hơn từ những tác động thầm lặng, nhưng thiết yếu của Đức Thánh Linh. Trong tôn danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men. Ghi Chú 1. Gia Cốp 6:8. 2. Brigham Young, Discourses of Brigham Young, do John A. Widtsoe tuyển chọn (1954), 32. 3. Môi Se 6:65. 4. Xin xem Parley P. Pratt, Key to the Science of Theology, xuất bản lần thứ 9 (1965), 101: “Ân tứ Đức Thánh Linh . . . làm sống động tất cả những khả năng của trí óc, gia tăng, bành trướng, nới rộng và thanh tẩy tất cả những cảm xúc và tình cảm tự nhiên; và làm chúng thích nghi, qua ân tứ của sự thông sáng, với việc sử dụng hợp pháp của chúng.” 5. GLGƯ 88:63–64. 6. Ga La Ti 5:25.

TIẾP-CẬN VỚI ĐỨC-THÁNH-LINH !

Qua vài lần cầu nguyện thật-lòng,hết-lòng ta sẽ làm quen,nhạy bén với sự làm-việc của Đức-Thánh-Linh trong tâm-tư,được sự soi-sáng,dẫn-dắt của Ngài trong mọi suy-nghĩ,suy-tư,các vấn đề quá sự hiểu-biết,khó hiểu dần mỡ ra,còn được an-ủi,khích-lệ ,thêm-sức khi gặp khó-khăn,trỡ-ngại. Lương tâm,lương tri được phục-hồi (khi trước như ngũ-mê,chết-lặng) ĐTL là “Thần “ khôn-ngoan,Đấng “yêu-thương” ta học được thương yêu,thánh-thiện qua Ngài thay vì vô-cãm,lạnh-lùng trước nổi-đau,nổi-buồn của loài-người,con-người (xung-quanh) Khi tưỡng nhớ về nhau,nghĩ về nhau chúng ta mới cãm nhận,hiểu-biết những gì ai đó đang thấy,đang biết.Khi chúng ta tĩnh-tâm và hướng về Đức-Thánh-Linh ta mới càng ngày gần hơn,rõ hơn ĐTL là ai,hiện-hữu,hiện-diện ra sao ! Như thế nào ! Không còn xa lạ,xa cách như Trời với Đất,như nước với mây.Lương-tâm không chai-lì,lương-tri không mù-mờ mỗi khi ta hướng tâm lên ,vươn lên trong “khốn-khó” ! Chúa JESUS phán :” Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.!” -“Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai, hãy nghe!” -“Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm.” -“Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời.” -“Cũng thể ấy, Cha các ngươi ở trên trời không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nầy phải hư mất.!” -“Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ.!” -“Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy.!” Đức Chúa Jêsus nức lòng bởi Đức Thánh Linh, bèn nói rằng: Lạy Cha, là Chúa trời đất, tôi ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu những sự nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho trẻ nhỏ hay! Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành.! -“Ngài phán rằng: Khi các ngươi cầu nguyện, hãy nói: Lạy Cha! danh Cha được thánh; nước Cha được đến; 3 xin cho chúng tôi ngày nào đủ bánh ngày ấy; 4 xin tha tội chúng tôi, vì chúng tôi cũng tha kẻ mích lòng mình; và xin chớ đem chúng tôi vào sự cám dỗ!” -“Trong các ngươi có ai làm cha, khi con mình xin bánh mà cho đá chăng? Hay là xin cá, mà cho rắn thay vì cá chăng? 12 Hay là xin trứng, mà cho bò cạp chăng? 13 Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!” (Trích sách Luca.Chương 11:câu 2-4 Câu11-13) http://www.vietchristian.com/bhkt/result.asp?Bk=41&Ch=11 http://www.vietchristian.com/sermon/result.asp?Bk=41&Ch=11 http://www.vietchristian.com/cgi-bin/bibrowse2.exe?41&11&bn=btt

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

THIÊN-CHỨC và NGHỀ-NGHIỆP

Nếu giáo-viên chỉ dạy tốt trong từng bài học,tiết học…học sinh hiểu bài,nhớ bài,thuộc bài..thi học kỳ tỷ-lệ đạt điểm cao hầu như cã lớp,thi tốt nghiệp,thi chuyễn cấp tỷ lệ đậu cũng cao..đó là giáo-viên giỏi (nghề-nghiệp).Còn ưu-tú hơn là giáo-viên có những lời-khuyên,tâm-tình làm cho các em giác-ngộ,sáng-lòng,sáng-mắt biết tự-giác,tự-nguyện chọn điều hay,làm điều tốt (chẵng cần lên lớp,răn đe)học tập,lao-động cách vui-tươi,hạnh-phúc,đổi mới,tiến bộ cách lạ lùng thì gọi là Thiên Chức. (giáo-dục không cần cải-tạo,cải huấn,hình-phạt,răn đe) Thiên chức là thể-hiện ,hành-động bởi tình-yêu,vì tình-yêu (tình cãm tác động)không đặt nặng quyền-lợi,tiền bạc trên nhiệm vụ,vui trong công việc,chăm chỉ,chuyên cần, không chạy theo hình-thức,phô-trương,hào-nhoáng (huy chương,thành-tích,khen thưỡng) Cái được của Thiên chức là niềm vui sâu-xa,bất tận,vô-tận không có gì mua được,đổi được.Một học sinh,sinh viên thủ-khoa có niềm vui đặc biệt hơn trúng số giãi cao…không hề thấy việc học là nặng nhọc,vất-vã,khô khan,chán ngắt ! Phát-huy thiên chức sẽ cung cấp ngày càng nhiều học sinh giỏi,công dân xuất sắc,nhà khoa-học ,nhà quản-trị tài-tình trong tương lai.Muốn được nhân tài phải phát-huy thiên-chức. (Thiên+Tài) Nghề nghiệp chỉ tạo ra nhà chuyên môn,chỉ làm thuê hơn nghĩa vụ,ai thuê gì làm đó,không có tiền không làm,không quan-tâm. Cuộc đời,xã-hội vẫn như củ,vủ như cẩn nếu không coi trọng thiên chức,hành động như thiên chức,làm việc trong thiên-chức. Thiên chức là ý-thức,nhận thức sự cao-trọng,cao-đẹp trong mỗi việc làm,trong mỗi hành động.không phải là khẩu hiệu,huy-hiệu,bảng hiệu. “Đây là thiên chức” hay “Thiên chức là đây” Biết hay không làm,biết đúng không theo,biết đẹp không chọn ! Những nhà khoa-học với công trình nghiên cứu phục vụ số đông,giáo-sĩ với những thông-điệp yêu-thương,hòa-bình,nhạc-sĩ,ca sĩ với những ca-khúc như Thánh-ca nâng cao tình-người,lòng người,những chiến-sĩ hy-sinh,tranh-đấu cho công-bằng,tiến-bộ cùng với văn-sĩ,bác-sĩ,dược-sĩ,y sĩ hàng ngày,hàng giờ hoàn-thành công tác như một sứ-mạng,thiêng liêng,cao-đẹp như Thiên Chức do Thánh Linh kêu gọi để đem lại phục-hưng cho xã-hội,nhân-loại ! Ôi Thiên-chức ! Ái không khao-khát,mong ước ! từ trẻ thơ cho đến cụ lão ! Một ngày nào đó thiên chức biến hóa chúng ta như Thiên sứ , lìa đời trong sự thương tiếc của bao người ! Qua đời với nụ cười mãn nguyện trong thế giới đầy nước mắt ! HALELUJA ! AMEN !

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội NGHỊ ĐỊNH: Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với hội. 2. Nghị định này không áp dụng với các tổ chức: a) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; b) Các tổ chức giáo hội. Điều 2. Hội 1. Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. 2. Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là hội). 3. Phạm vi hoạt động của hội (theo lãnh thổ) gồm: a) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; b) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh); c) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là huyện); d) Hội có phạm vi hoạt động trong xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã). Điều 3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội Tổ chức, hoạt động của hội được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: 1. Tự nguyện; tự quản; 2. Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; 3. Tự bảo đảm kinh phí hoạt động; 4. Không vì mục đích lợi nhuận; 5. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội. Điều 4. Tên, biểu tượng, trụ sở, con dấu và tài khoản của hội 1. Tên của hội được viết bằng tiếng Việt, có thể được phiên âm, dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài; tên, biểu tượng của hội không được trùng lặp, gây nhầm lẫn với tên của hội khác đã được thành lập hợp pháp; không vi phạm đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hoá dân tộc. 2. Hội có tư cách pháp nhân, trụ sở, con dấu, tài khoản và có thể có biểu tượng riêng. Trụ sở chính của hội đặt tại Việt Nam. Chương II ĐIỀU KIỆN, THỦ TỤC THÀNH LẬP HỘI Điều 5. Điều kiện thành lập hội 1. Có mục đích hoạt động không trái với pháp luật; không trùng lặp về tên gọi và lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ. 2. Có điều lệ. 3. Có trụ sở. 4. Có số lượng công dân, tổ chức Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội: a) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh có ít nhất một trăm công dân, tổ chức ở nhiều tỉnh có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; b) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh có ít nhất năm mươi công dân, tổ chức trong tỉnh có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; c) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện có ít nhất hai mươi công dân, tổ chức trong huyện có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; d) Hội có phạm vi hoạt động trong xã có ít nhất mười công dân, tổ chức trong xã có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; đ) Hiệp hội của các tổ chức kinh tế có hội viên là đại diện các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân của Việt Nam, có phạm vi hoạt động cả nước có ít nhất mười một đại diện pháp nhân ở nhiều tỉnh; hiệp hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh có ít nhất năm đại diện pháp nhân trong tỉnh cùng ngành nghề hoặc cùng lĩnh vực hoạt động có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hiệp hội. Đối với hội nghề nghiệp có tính đặc thù chuyên môn, số lượng công dân và tổ chức tự nguyện đăng ký tham gia thành lập hội do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này xem xét quyết định từng trường hợp cụ thể. Điều 6. Ban vận động thành lập hội 1. Muốn thành lập hội, những người sáng lập phải thành lập ban vận động thành lập hội. Ban vận động thành lập hội được cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực chính mà hội dự kiến hoạt động công nhận. 2. Người đứng đầu ban vận động thành lập hội là công dân Việt Nam, sống thường trú tại Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sức khoẻ và có uy tín trong lĩnh vực hội dự kiến hoạt động. 3. Số thành viên trong ban vận động thành lập hội được quy định như sau: a) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh có ít nhất mười thành viên; b) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, có ít nhất năm thành viên; c) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, xã, có ít nhất ba thành viên; d) Hiệp hội của các tổ chức kinh tế có phạm vi hoạt động cả nước có ít nhất năm thành viên đại diện cho các tổ chức kinh tế; đối với hiệp hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh có ít nhất ba thành viên đại diện cho các tổ chức kinh tế trong tỉnh. 4. Hồ sơ đề nghị công nhận ban vận động thành lập hội lập thành hai bộ, hồ sơ gồm: a) Đơn xin công nhận ban vận động thành lập hội, trong đơn nêu rõ tên hội, tôn chỉ, mục đích của hội, lĩnh vực mà hội dự kiến hoạt động, phạm vi hoạt động, dự kiến thời gian trù bị thành lập hội và nơi tạm thời làm địa điểm hội họp; b) Danh sách và trích ngang của những người dự kiến trong ban vận động thành lập hội: họ, tên; ngày, tháng, năm sinh; trú quán; trình độ văn hóa; trình độ chuyên môn. 5. Công nhận ban vận động thành lập hội: a) Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực chính mà hội dự kiến hoạt động quyết định công nhận ban vận động thành lập hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; b) Sở quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực chính mà hội dự kiến hoạt động quyết định công nhận ban vận động thành lập hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh; c) Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) quyết định công nhận ban vận động thành lập hội có phạm vi hoạt động trong huyện, xã. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ủy quyền cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động trong xã, thì phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận ban vận động thành lập hội có phạm vi hoạt động trong xã; d) Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các điểm a, b và c khoản 5 Điều này có trách nhiệm xem xét, quyết định công nhận ban vận động thành lập hội; trường hợp không đồng ý phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. 6. Nhiệm vụ của ban vận động thành lập hội sau khi được công nhận: a) Vận động công dân, tổ chức đăng ký tham gia hội; b) Hoàn chỉnh hồ sơ xin phép thành lập hội theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này. Sau khi đã hoàn tất việc trù bị thành lập hội, ban vận động thành lập hội lập thành hai bộ hồ sơ gửi đến: Bộ Nội vụ đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; Sở Nội vụ đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, huyện, xã; Phòng Nội vụ (trong trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập hội có phạm vi hoạt động trong xã). Ban vận động thành lập hội tự giải thể khi đại hội bầu ra ban lãnh đạo của hội. Điều 7. Hồ sơ xin phép thành lập hội 1. Đơn xin phép thành lập hội. 2. Dự thảo điều lệ. 3. Dự kiến phương hướng hoạt động. 4. Danh sách những người trong ban vận động thành lập hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. 5. Lý lịch tư pháp người đứng đầu ban vận động thành lập hội. 6. Văn bản xác nhận nơi dự kiến đặt trụ sở của hội. 7. Bản kê khai tài sản do các sáng lập viên tự nguyện đóng góp (nếu có). Điều 8. Nội dung chính của Điều lệ hội 1. Tên gọi của hội. 2. Tôn chỉ, mục đích, lĩnh vực và phạm vi hoạt động của hội. 3. Nhiệm vụ, quyền hạn của hội. 4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hội. 5. Thể thức vào hội, ra hội, thẩm quyền kết nạp, khai trừ hội viên. 6. Tiêu chuẩn hội viên. 7. Quyền, nghĩa vụ của hội viên. 8. Cơ cấu, tổ chức, thể thức bầu và miễn nhiệm; nhiệm vụ, quyền hạn của ban lãnh đạo, ban kiểm tra, các chức vụ lãnh đạo khác của hội; nguyên tắc, hình thức biểu quyết. 9. Tài sản, tài chính và phương thức quản lý tài sản, tài chính của hội. 10. Điều kiện giải thể và thanh quyết toán tài sản, tài chính. 11. Khen thưởng, kỷ luật; khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong nội bộ hội. 12. Thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ. 13. Hiệu lực thi hành. Điều 9. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hội khi nhận hồ sơ xin phép thành lập hội Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này khi nhận hồ sơ xin phép thành lập hội phải có giấy biên nhận. Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, quyết định cho phép thành lập hội; trường hợp không đồng ý phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Điều 10. Thời gian tiến hành đại hội thành lập hội 1. Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày quyết định cho phép thành lập hội có hiệu lực, ban vận động thành lập hội phải tổ chức đại hội. 2. Nếu quá thời hạn trên không tổ chức đại hội, thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày hết thời hạn tổ chức đại hội theo quy định tại khoản 1 Điều này, ban vận động thành lập hội có văn bản gửi cơ quan nhà nước đã quyết định cho phép thành lập hội đề nghị gia hạn. Thời gian gia hạn không quá ba mươi ngày, nếu quá thời gian được gia hạn mà không tổ chức đại hội thì quyết định cho phép thành lập hội hết hiệu lực. Điều 11. Nội dung chủ yếu trong đại hội thành lập hội 1. Công bố quyết định cho phép thành lập hội. 2. Thảo luận và biểu quyết điều lệ. 3. Bầu ban lãnh đạo và ban kiểm tra. 4. Thông qua chương trình hoạt động của hội. 5. Thông qua nghị quyết đại hội. Điều 12. Báo cáo kết quả đại hội Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày đại hội, ban lãnh đạo hội gửi tài liệu đại hội đến cơ quan nhà nước đã quyết định cho phép thành lập hội, gồm: 1. Điều lệ và biên bản thông qua điều lệ hội; 2. Biên bản bầu ban lãnh đạo, ban kiểm tra (có danh sách kèm theo) và lý lịch người đứng đầu hội; 3. Chương trình hoạt động của hội; 4. Nghị quyết đại hội. Điều 13. Phê duyệt điều lệ hội và hiệu lực của điều lệ hội 1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này quyết định phê duyệt điều lệ hội khi điều lệ hội đã được đại hội thông qua. Trường hợp quy định của điều lệ hội trái với pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối phê duyệt và yêu cầu hội sửa đổi. 2. Điều lệ hội có hiệu lực kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định phê duyệt. Điều 14. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể, đổi tên và phê duyệt điều lệ hội 1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh, trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác. 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh. Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động trong xã. Chương III HỘI VIÊN Điều 15. Hội viên của hội Hội viên của hội gồm hội viên chính thức, hội viên liên kết và hội viên danh dự. Điều 16. Hội viên chính thức 1. Công dân, tổ chức Việt Nam tán thành điều lệ hội, tự nguyện gia nhập hội, có đủ tiêu chuẩn hội viên theo quy định của điều lệ hội có thể trở thành hội viên chính thức của hội. 2. Thẩm quyền và thủ tục kết nạp hội viên do điều lệ hội quy định. Điều 17. Hội viên liên kết và hội viên danh dự 1. Các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi chung là doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài) hoạt động tại Việt Nam, có đóng góp cho sự phát triển của hiệp hội, tán thành điều lệ hiệp hội, thì được hiệp hội của các tổ chức kinh tế xem xét, công nhận là hội viên liên kết. 2. Công dân, tổ chức Việt Nam không có điều kiện hoặc không có đủ tiêu chuẩn trở thành hội viên chính thức của hội, tán thành điều lệ hội, tự nguyện xin vào hội, được hội công nhận là hội viên liên kết hoặc hội viên danh dự. 3. Hội viên liên kết, hội viên danh dự được hưởng quyền và nghĩa vụ như hội viên chính thức của hội, trừ quyền biểu quyết các vấn đề của hội và không được bầu cử, ứng cử vào ban lãnh đạo, ban kiểm tra hội. 4. Thủ tục kết nạp, quyền, nghĩa vụ của hội viên liên kết, hội viên danh dự do điều lệ hội quy định. Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của hội viên Quyền và nghĩa vụ của hội viên do điều lệ hội quy định. Chương IV TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘI Điều 19. Cơ cấu tổ chức của hội Cơ cấu tổ chức của hội gồm: 1. Đại hội; 2. Ban lãnh đạo; 3. Ban kiểm tra; 4. Các tổ chức khác do điều lệ hội quy định. Điều 20. Đại hội nhiệm kỳ và đại hội bất thường 1. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của hội là đại hội nhiệm kỳ hoặc đại hội bất thường. 2. Đại hội nhiệm kỳ hoặc đại hội bất thường được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu. Đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu chỉ được tổ chức khi có trên 1/2 (một phần hai) số hội viên chính thức hoặc có trên 1/2 (một phần hai) số đại biểu chính thức có mặt. 3. Nhiệm kỳ đại hội do điều lệ hội quy định nhưng không quá năm năm kể từ ngày kết thúc đại hội nhiệm kỳ trước. Trong thời gian mười hai tháng kể từ ngày hết nhiệm kỳ đại hội, nếu hội không tiến hành đại hội, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này có văn bản yêu cầu hội tổ chức đại hội. Trong thời gian sáu tháng kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu tổ chức đại hội mà lãnh đạo hội không tổ chức đại hội thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này xem xét, quyết định xử lý. 4. Đại hội bất thường được triệu tập khi ít nhất có 2/3 (hai phần ba) tổng số uỷ viên ban lãnh đạo hoặc có ít nhất 1/2 (một phần hai) tổng số hội viên chính thức đề nghị. Điều 21. Nội dung chủ yếu quyết định tại đại hội 1. Phương hướng hoạt động của hội. 2. Bầu ban lãnh đạo, ban kiểm tra hội. 3. Đổi tên hội, sửa đổi, bổ sung điều lệ (nếu có). 4. Gia nhập liên hiệp các hội cùng lĩnh vực hoạt động. 5. Chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể hội. 6. Tài chính của hội. 7. Các vấn đề khác theo quy định của điều lệ hội. Điều 22. Nguyên tắc biểu quyết tại đại hội 1. Đại hội có thể biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Việc quy định hình thức biểu quyết do đại hội quyết định. 2. Việc biểu quyết thông qua các quyết định của đại hội phải được quá 1/2 (một phần hai) đại biểu chính thức có mặt tán thành. Điều 23. Quyền của hội 1. Tổ chức, hoạt động theo điều lệ hội đã được phê duyệt. 2. Tuyên truyền mục đích của hội. 3. Đại diện cho hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của hội. 4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích của hội. 5. Tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của hội; hoà giải tranh chấp trong nội bộ hội. 6. Phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; cung cấp thông tin cần thiết cho hội viên theo quy định của pháp luật. 7. Tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước; cung cấp dịch vụ công về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của hội, tổ chức dạy nghề, truyền nghề theo quy định của pháp luật. 8. Thành lập pháp nhân thuộc hội theo quy định của pháp luật. 9. Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt động của hội theo quy định của pháp luật. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các vấn đề liên quan tới sự phát triển hội và lĩnh vực hội hoạt động. Được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các hoạt động dịch vụ khác theo quy định của pháp luật và được cấp chứng chỉ hành nghề khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. 10. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ của hội. 11. Được gây quỹ hội trên cơ sở hội phí của hội viên và các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật để tự trang trải về kinh phí hoạt động. 12. Được nhận các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Được nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của nhà nước giao. 13. Cơ quan Trung ương hội có phạm vi hoạt động trong toàn quốc được gia nhập các tổ chức quốc tế tương ứng và ký kết, thực hiện thoả thuận quốc tế theo quy định của pháp luật và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hội hoạt động, cơ quan quyết định cho phép thành lập hội về việc gia nhập tổ chức quốc tế tương ứng, ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế. Điều 24. Nghĩa vụ của hội 1. Chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan đến tổ chức, hoạt động của hội và điều lệ hội. Không được lợi dụng hoạt động của hội để làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đạo đức, thuần phong mỹ tục, truyền thống của dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. 2. Hội hoạt động thuộc lĩnh vực nào phải chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực đó. 3. Trước khi tổ chức đại hội nhiệm kỳ ba mươi ngày, ban lãnh đạo hội phải có văn bản báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực hội hoạt động. 4. Việc lập văn phòng đại diện của hội ở địa phương khác phải xin phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt văn phòng đại diện và báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 5. Khi thay đổi Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký của hội, thay đổi trụ sở, sửa đổi, bổ sung điều lệ, hội phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 6. Việc lập các pháp nhân thuộc hội phải theo đúng quy định của pháp luật và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 7. Hàng năm, hội phải báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động của hội với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này và cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực mà hội hoạt động, chậm nhất vào ngày 01 tháng 12 hàng năm. 8. Chấp hành sự hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tuân thủ pháp luật. 9. Lập và lưu giữ tại trụ sở hội danh sách hội viên, chi hội, văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc hội, sổ sách, chứng từ về tài sản, tài chính của hội và văn phòng đại diện, biên bản các cuộc họp ban lãnh đạo hội. 10. Kinh phí thu được theo quy định tại khoản 11 và khoản 12 Điều 23 của Nghị định này phải dành cho hoạt động của hội theo quy định của điều lệ hội, không được chia cho hội viên. 11. Việc sử dụng kinh phí của hội phải chấp hành quy định của pháp luật. Hàng năm, hội phải báo cáo quyết toán tài chính theo quy định của Nhà nước gửi cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này về việc tiếp nhận, sử dụng nguồn tài trợ của cá nhân, tổ chức nước ngoài. 12. Xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức trong hoạt động của hội. Chương V CHIA, TÁCH; SÁP NHẬP; HỢP NHẤT; GIẢI THỂ VÀ ĐỔI TÊN HỘI Điều 25. Chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể và đổi tên hội 1. Tuỳ theo yêu cầu và khả năng hoạt động của hội, ban lãnh đạo hội đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này cho phép chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể và đổi tên hội. Việc chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể và đổi tên hội được thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Hội giải thể trong các trường hợp sau: a) Tự giải thể; b) Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này quyết định giải thể. Điều 26. Hội tự giải thể Hội tự giải thể trong các trường hợp sau: 1. Hết thời hạn hoạt động; 2. Theo đề nghị của trên 1/2 (một phần hai) tổng số hội viên chính thức; 3. Mục đích đã hoàn thành. Điều 27. Trách nhiệm của ban lãnh đạo hội khi hội tự giải thể 1. Gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này các văn bản sau: a) Đơn đề nghị giải thể hội; b) Nghị quyết giải thể hội; c) Bản kê tài sản, tài chính; d) Dự kiến phương thức xử lý tài sản, tài chính và thời hạn thanh toán các khoản nợ. 2. Thông báo thời hạn thanh toán nợ (nếu có) cho các tổ chức và cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật trên năm số liên tiếp ở báo Trung ương đối với hội có phạm vi hoạt động trong cả nước và liên tỉnh; năm số liên tiếp ở báo địa phương đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh. Điều 28. Quyết định việc giải thể hội Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này quyết định giải thể hội sau mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán nợ và thanh lý tài sản, tài chính ghi trong thông báo của hội khi xin giải thể mà không có đơn khiếu nại. Hội chấm dứt hoạt động kể từ ngày quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thể hội có hiệu lực. Điều 29. Hội bị giải thể Hội bị giải thể theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này trong các trường hợp sau: 1. Hội không hoạt động liên tục mười hai tháng; 2. Khi có nghị quyết của đại hội về việc hội tự giải thể mà ban lãnh đạo hội không chấp hành; 3. Hoạt động của hội vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Điều 30. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi hội bị giải thể Khi hội bị giải thể, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Nghị định này: 1. Ra quyết định giải thể hội; 2. Thông báo quyết định giải thể hội trên ba số liên tiếp ở báo Trung ương đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước và liên tỉnh; ba số liên tiếp ở báo địa phương đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh. Điều 31. Giải quyết tài sản, tài chính khi hội giải thể; hợp nhất; sáp nhập; chia, tách 1. Hội tự giải thể, bị giải thể, tài sản của hội được giải quyết như sau: a) Tài sản, tài chính do các tổ chức trong và ngoài nước tài trợ; tài sản, tài chính do Nhà nước hỗ trợ mà hội đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài sản và thanh toán các khoản nợ thì số tài sản, số dư tài chính còn lại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; b) Đối với nguồn tài sản, tài chính tự có của hội, mà hội đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài sản và thanh toán các khoản nợ sau khi hội giải thể thì số tài sản, số dư tài chính còn lại do hội quyết định theo quy định của điều lệ hội. 2. Giải quyết tài sản, tài chính của hội khi hội hợp nhất: a) Sau khi hợp nhất hội thành hội mới, các hội cũ chấm dứt tồn tại, hội mới được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, các hợp đồng dịch vụ mà các hội cũ đang thực hiện; b) Tài sản, tài chính của các hội hợp nhất không được phân chia, chuyển dịch mà được chuyển giao toàn bộ cho hội mới. 3. Giải quyết tài sản, tài chính của hội khi sáp nhập: a) Hội được sáp nhập vào hội khác, thì tài sản, tài chính của hội được sáp nhập chuyển giao cho hội sáp nhập; b) Hội sáp nhập được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp về tài sản, tài chính hiện có, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán về tài sản, tài chính và các hợp đồng dịch vụ đang thực hiện của hội được sáp nhập. 4. Giải quyết tài sản, tài chính của hội khi chia, tách: a) Sau khi chia hội, hội bị chia chấm dứt hoạt động, quyền, nghĩa vụ về tài sản, tài chính được chuyển giao cho hội mới theo quyết định chia hội; b) Sau khi tách, các hội thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản, tài chính của mình phù hợp với mục đích hoạt động của hội đó. Điều 32. Quyền khiếu nại Trường hợp hội bị giải thể mà không đồng ý với quyết định giải thể, thì hội có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, hội không được hoạt động. Chương VI MỘT SỐ QUY ĐỊNH ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁC HỘI CÓ TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ Điều 33. Hội có tính chất đặc thù Hội có tính chất đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quy định, thực hiện các quy định chung tại Nghị định này và quy định của Điều này, Điều 34, Điều 35 của Nghị định này. Điều 34. Quyền, nghĩa vụ của hội có tính chất đặc thù 1. Quyền của hội có tính chất đặc thù: a) Tham gia với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực hoạt động của hội; b) Tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ công thuộc lĩnh vực hoạt động của hội theo quy định của pháp luật; c) Tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chính sách, chương trình, đề tài, dự án do cơ quan nhà nước yêu cầu về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của hội theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. 2. Nghĩa vụ của hội có tính chất đặc thù: a) Tập hợp, nghiên cứu ý kiến, kiến nghị của các hội thành viên, hội viên theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hội để tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước; b) Tập hợp các chuyên gia đầu ngành, các chuyên gia giỏi ở các hội thành viên và các tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội; c) Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động của hội theo quy định của pháp luật. Điều 35. Chính sách của nhà nước đối với các hội có tính chất đặc thù 1. Các hội có tính chất đặc thù được cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động; được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, các dịch vụ công; thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án. 2. Việc cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; tư vấn, phản biện và giám định xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định. 3. Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quy định, hướng dẫn, tạo điều kiện về cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao, hỗ trợ kinh phí hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; ban hành cơ chế chính sách để hội có tính chất đặc thù tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, các dịch vụ công; tư vấn, phản biện và giám định xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền. Chương VII QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI Điều 36. Quản lý nhà nước đối với hội 1. Xây dựng trình hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hội. 2. Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, các hội và công dân thi hành pháp luật về hội. 3. Cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ hội theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 4. Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý hội. 5. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hội. 6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội; kiểm tra việc thực hiện điều lệ hội đối với các hội. 7. Quản lý việc ký kết hợp tác quốc tế về hội theo quy định của pháp luật. 8. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội. 9. Tổng hợp báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hội trong phạm vi cả nước. Điều 37. Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với hội hoạt động thuộc lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý trong phạm vi cả nước 1. Tham gia bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Điều 14 của Nghị định này về việc cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ hội; quyết định công nhận ban vận động thành lập hội theo thẩm quyền. 2. Ban hành cơ chế, chính sách để hội tham gia chương trình dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội, cung cấp dịch vụ công, đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề các hoạt động thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, tạo điều kiện để hội tổ chức đại hội nhiệm kỳ; tổ chức lấy ý kiến của hội để hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực. 3. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của hội; quản lý việc tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ của cá nhân, tổ chức nước ngoài cho hội. 4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hội thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật; kiến nghị việc giải thể hội. Điều 38. Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với hội hoạt động trong phạm vi tỉnh 1. Thực hiện thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Nghị định này và quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của hội. 2. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội. 3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hội. 4. Xem xét hỗ trợ đối với các hội có phạm vi hoạt động tại địa phương. 5. Xem xét và cho phép hội có phạm vi hoạt động tại địa phương nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. 6. Chỉ đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong việc quản lý hội. 7. Hàng năm, tổng hợp, báo cáo Bộ Nội vụ về tình hình tổ chức, hoạt động và quản lý hội ở địa phương. Điều 39. Khen thưởng 1. Hội hoạt động có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội thì được khen thưởng theo quy định của Nhà nước. 2. Hội viên có nhiều thành tích thì được khen thưởng theo quy định của hội và của Nhà nước. Điều 40. Xử lý vi phạm 1. Người nào vi phạm quyền lập hội, lợi dụng danh nghĩa hội để hoạt động trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; trường hợp gây thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 2. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cho phép thành lập hội trái với quy định của Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; trường hợp gây thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 3. Ban lãnh đạo hội, người đại diện hội cố tình kéo dài thời hạn đại hội nhiệm kỳ do điều lệ hội quy định hoặc không chấp hành quy định về nghĩa vụ của hội thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Chương VIII ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 41. Hiệu lực thi hành 1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. 2. Nghị định này thay thế Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Điều 42. Tổ chức thực hiện Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./. Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; - Văn phòng TW và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - Ủy ban Giám sát tài chính QG; - Ngân hàng Chính sách Xã hội; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, TCCV (5b). N TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG (Đã ký ) Nguyễn Tấn Dũng Thuộc tính văn bản Số/Ký hiệu 45/2010/NĐ-CP Ngày ban hành 21/04/2010