Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2007

LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

- Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;

- Luật này quy định về trợ giúp pháp lý,
CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG


Điều 1. Trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp luật miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, nâng cao ý thức pháp luật, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý; các tổ chức trợ giúp pháp lý; nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức trợ giúp pháp lý; tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý; nguyên tắc, hình thức, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.

Điều 3. Đối tượng áp dụng
1. Luật này áp dụng đối với người được trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng điều ước quốc tế đó.

Điều 4. Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý
1. Không thu phí, lệ phí từ người được trợ giúp pháp lý.
2. Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.
3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý.

Điều 5. Chính sách trợ giúp pháp lý
1. Trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ của Nhà nước.
2. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức, đoàn thể xã hội); cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật; tổ chức kinh tế; cán bộ, công chức, cơ quan báo chí và các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Điều 6. Quỹ Trợ giúp pháp lý
1. Quỹ Trợ giúp pháp lý (sau đây gọi là Quỹ) được thành lập ở Trung ương để hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.
Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được miễn thuế theo quy định của pháp luật.
2. Kinh phí của Quỹ được hình thành từ các nguồn sau đây:
a) Ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán hàng năm;
b) Tài trợ, đóng góp tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
c) Các nguồn thu hợp pháp khác.
3. Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp ủng hộ xây dựng Quỹ.
4. Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Quỹ.

Điều 7. Các hành vi bị cấm
1. Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây phương hại đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
2. Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, của người thực hiện trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử với người được trợ giúp pháp lý.
3. Nhận tiền của người được trợ giúp pháp lý hoặc đòi hỏi bất kỳ một lợi ích nào khác đối với họ; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý hoặc lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi.
4. Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Cản trở, gây trở ngại cho hoạt động trợ giúp pháp lý hoặc gây rối, làm mất trật tự nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái pháp luật về trợ giúp pháp lý; sử dụng Quỹ trợ giúp pháp lý trái với quy định của pháp luật hoặc làm thất thoát kinh phí cấp cho hoạt động trợ giúp pháp lý.
7. Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; xúi giục người được trợ giúp pháp lý khai sai sự thật hoặc khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện không có căn cứ hoặc trái pháp luật.
CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 8. Người được trợ giúp pháp lý
Phương án 1:
Người được trợ giúp pháp lý là người nghèo theo quy định của pháp luật về chuẩn nghèo.
Phương án 2:
1. Người nghèo theo quy định của pháp luật về chuẩn nghèo.
2. Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; cha, mẹ, vợ (hoặc chồng), con liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; thương binh, bệnh binh; người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh; người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Bằng “Có công với nước”;
3. Đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở các xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đặt biệt khó khăn.

Điều 9. Vụ việc được trợ giúp pháp lý
Vụ việc được trợ giúp pháp lý phải đủ các điều kiện sau đây:
1. Là vụ việc có thực gắn liền với quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;
2. Vụ việc thuộc hình thức, phạm vi trợ giúp pháp lý và không trái đạo đức xã hội.

Điều 10. Quyền của người được trợ giúp pháp lý
1. Trực tiếp yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc yêu cầu trợ giúp pháp lý qua thân nhân của mình hoặc thông qua người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức hữu quan.
2. Yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc trường hợp phải từ chối theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Luật này.
3. Rút hoặc thay đổi yêu cầu trợ giúp pháp lý.
4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, kiến nghị về trợ giúp pháp lý.

Điều 11. Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý
1. Cung cấp giấy tờ hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
2. Cung cấp trung thực các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin, tài liệu đó.
3. Tôn trọng tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Không được yêu cầu trợ giúp pháp lý tại nhiều tổ chức trợ giúp pháp lý về một vụ việc trong cùng một thời điểm.
5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.

CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 12. Các tổ chức trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước;
2. Tổ chức hành nghề luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật về luật sư;
3. Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức, đoàn thể xã hội được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.

Điều 13 . Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) thực hiện trợ giúp pháp lý bằng các hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện trước các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, kiến nghị trợ giúp pháp lý và các hình thức giúp đỡ pháp luật khác theo quy định tại Điều 29 của Luật này cho những người quy định tại Điều 8 của Luật này trong phạm vi địa bàn lãnh thổ của địa phương.
2. Tổ chức hành nghề luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý cho những người quy định tại Điều 8 của Luật này trong phạm vi hành nghề luật sư.
3. Tổ chức tư vấn pháp luật của tổ chức, đoàn thể xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật) thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật miễn phí cho những người quy định tại Điều 8 của Luật này trong phạm vi Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức mình.

Điều 14. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước
1. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập một hoặc một số Trung tâm thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Trung tâm là tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở riêng, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
3. Trung tâm có Giám đốc, Phó giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý và kế toán chuyên trách. Giám đốc Trung tâm do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Điều 15. Đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức tư vấn pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 12 của Luật này nếu có điều kiện và tự nguyện thì đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Khi đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức tư vấn pháp luật phải gửi Đơn đăng ký đến Sở Tư pháp đã cấp Giấy đăng ký hoạt động tư vấn pháp luật.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được Đơn đăng ký của tổ chức tư vấn pháp luật, Sở Tư pháp có trách nhiệm cấp Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý cho tổ chức này; trong trường hợp từ chối, phải thông báo lý do bằng văn bản.
3. Thủ tục đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý; cấp, thu hồi, thay đổi, bổ sung Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý do Chính phủ quy định.

Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức trợ giúp pháp lý
1. Thực hiện trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.
2. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan để thực hiện trợ giúp pháp lý có hiệu quả.
3. Tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý.
4. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
5. Nhận tài trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước thông qua Quỹ trợ giúp pháp lý.
6. Quản lý đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý theo thẩm quyền.
7. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý.
8. Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do lỗi của người thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc quyền quản lý của mình gây ra.
9. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG 4: NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 17. Người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:
a) Trợ giúp viên pháp lý;
b) Luật sư;
c) Tư vấn viên pháp luật;
d) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý (sau đây gọi là cộng tác viên).
2. Những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xoá án tích hoặc thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chế hành chính thì không được thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 18. Trợ giúp viên pháp lý
1. Trợ giúp viên pháp lý là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để thực hiện trợ giúp pháp lý tại Trung tâm.
2. Trợ giúp viên pháp lý phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt;
b) Có bằng đại học luật;
c) Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.
3. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của Giám đốc Trung tâm nơi mình làm việc.
4. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý bằng các hình thức sau:
a) Tư vấn pháp luật;
b) Tham gia tố tụng với tư cách: người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, việc dân sự, vụ án hành chính;
c) Đại diện cho người được trợ giúp pháp lý trước các cơ quan, tổ chức hữu quan;
d) Kiến nghị trợ giúp pháp lý;
đ) Thực hiện các hình thức giúp đỡ pháp luật khác.
5. Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trợ giúp viên pháp lý theo quy định của Chính phủ.

Điều 19. Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Tình nguyện thực hiện trợ giúp pháp lý mà không nhận thù lao.
2. Thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư.
3. Thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách cộng tác viên theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật này.
4. Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bằng các hình thức: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện trong phạm vi hành nghề luật sư.

Điều 20. Tư vấn viên pháp luật
Tư vấn viên pháp luật là người có đủ các tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 18 của Luật này làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật. Tư vấn viên pháp luật thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức mình hoặc với tư cách cộng tác viên theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật này.

Điều 21. Cộng tác viên
1. Những người sau đây tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý được xem xét, công nhận là cộng tác viên của Trung tâm:
a) Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 18 của Luật này;
b) Cán bộ, công chức có trình độ đại học khác không phải là đại học luật, đang làm việc trong các ngành, nghề có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của công dân;
c) Người có trình độ Trung cấp pháp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ 3 năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng đang làm việc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.
2. Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của Giám đốc Trung tâm hoặc được tổ chức thành tổ cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Hình thức cộng tác, việc xem xét công nhận cộng tác viên và chế độ, chính sách cho cộng tác viên theo quy định của Chính phủ.

Điều 22. Quyền của người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Thực hiện việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.
2. Yêu cầu cá nhân, tổ chức, cơ quan hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc để thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với các quy định của pháp luật.
3. Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện yêu cầu trợ giúp pháp lý trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 40 của Luật này và theo quy định của pháp luật tố tụng.
4. Được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháp lý và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.
5. Đề xuất với tổ chức trợ giúp pháp lý kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế.
6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Điều 23. Nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan một cách kịp thời, khách quan, công bằng và hiệu quả.
2. Tuân thủ các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý.
3. Tuân thủ các quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý sau đây:
a) Tôn trọng người được trợ giúp pháp lý;
b) Giữ gìn uy tín và danh dự của tổ chức trợ giúp pháp lý; không lợi dụng danh nghĩa của tổ chức trợ giúp pháp lý, danh nghĩa của người thực hiện trợ giúp pháp lý vì mục đích tư lợi;
c) Không được từ chối vụ việc đã nhận, trừ trường hợp quy định tại Điều 40 của Luật này và theo quy định của pháp luật tố tụng;
d) Không hứa hẹn kết quả vụ việc với người được trợ giúp pháp lý.
4. Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do lỗi của của mình gây ra.
5. Tuân thủ nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.
6. Kịp thời báo cáo với tổ chức trợ giúp pháp lý những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng xấu đến kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý.
7. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG 5: HÌNH THỨC, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 24. Các hình thức trợ giúp pháp lý
1. Tư vấn pháp luật.
2. Tham gia tố tụng.
3. Đại diện.
4. Kiến nghị trợ giúp pháp lý.
5. Các hình thức giúp đỡ pháp luật khác.

Điều 25. Tư vấn pháp luật
1. Tư vấn pháp luật là việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến pháp lý hoặc giúp người được trợ giúp pháp lý soạn thảo giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý.
2. Tư vấn pháp luật bao gồm: Tư vấn miệng hoặc tư vấn bằng văn bản; tư vấn trực tiếp hoặc trả lời đơn thư thông qua phương tiện thông tin; tư vấn tại địa điểm lưu động, qua lớp học chuyên đề pháp luật hoặc thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và các phương thức khác.
3. Tư vấn pháp luật được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực pháp luật.
4. Khi thực hiện tư vấn pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải hướng dẫn, giúp người được trợ giúp pháp lý thực hiện đúng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
5. Tư vấn pháp luật được thực hiện theo thủ tục quy định tại Điều 36 của Luật này.

Điều 26. Tham gia tố tụng
1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.
2. Việc tham gia tố tụng được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng theo yêu cầu của người đượctrợ giúp pháp lý, trừ trường hợp pháp luật tố tụng có quy định khác.
3. Khi tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 27. Đại diện
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý thay mặt cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước cá nhân, tổ chức, cơ quan hữu quan.
2. Việc đại diện được thực hiện theo yêu cầu và trong phạm vi ủy quyền bằng văn bản của người được trợ giúp pháp lý hoặc thân nhân của họ.
3. Khi thực hiện việc đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thực hiện đúng và đầy đủ những nội dung có liên quan trong phạm vi đại diện và phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại Điều 38 của Luật này.

Điều 28. Kiến nghị trợ giúp pháp lý
1. Kiến nghị trợ giúp pháp lý là việc Trung tâm đưa ra quan điểm pháp lý trên cơ sở phân tích, đánh giá về khía cạnh pháp lý của vụ việc, đưa ra hướng giải quyết vụ việc dựa trên quy định của pháp luật và đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ việc theo đúng pháp luật.
2. Trung tâm được kiến nghị với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi có đủ căn cứ cho rằng việc giải quyết vụ việc của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chưa phù hợp với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý.
3. Việc kiến nghị có thể thực hiện trực tiếp bằng miệng hoặc bằng văn bản. Khi kiến nghị, Trung tâm phải nêu cụ thể nội dung vụ việc, căn cứ pháp luật được áp dụng và hướng giải quyết vụ việc. Việc kiến nghị bằng miệng được ghi lại thành biên bản và lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.
4. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi nhận được kiến nghị bằng văn bản của Trung tâm có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định về thời hạn trả lời.
5. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền không trả lời kiến nghị trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này hoặc trả lời chưa phù hợp với pháp luật, thì Trung tâm có quyền kiến nghị lên cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đó giải quyết hoặc hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 29. Các hình thức giúp đỡ pháp luật khác
1. Các hình thức giúp đỡ pháp luật khác bao gồm những công việc liên quan đến việc cung cấp bản sao các điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật, cung cấp địa chỉ của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết vụ việc và các công việc khác có liên quan đến thủ tục hành chính, dịch thuật, xác nhận văn bản, giấy tờ và các giao dịch khác theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý.
2. Việc thực hiện trợ giúp pháp lý tại Điều này được ghi thành biên bản lưu giữ trong hồ sơ và lưu các tài liệu có liên quan, bao gồm: đơn đề nghị trợ giúp pháp lý; giấy tờ hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý; các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 30. Địa điểm, nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức trợ giúp pháp lý phải bố trí địa điểm thuận lợi để tiếp người yêu cầu trợ giúp pháp lý và thực hiện việc trợ giúp pháp lý.
2. Tại trụ sở của tổ chức trợ giúp pháp lý phải niêm yết công khai nội quy và một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

Điều 31. Yêu cầu trợ giúp pháp lý
1. Người yêu cầu trợ giúp pháp lý trực tiếp hoặc gửi đơn yêu cầu thực hiện trợ giúp pháp lý phải kèm theo giấy tờ hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
2. Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý phải được người yêu cầu trợ giúp pháp lý ký tên hoặc điểm chỉ và có những nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên tổ chức trợ giúp pháp lý được yêu cầu;
c) Họ, tên, địa chỉ người yêu cầu trợ giúp pháp lý;
d) Nội dung vụ việc và yêu cầu trợ giúp pháp lý.
3. Trong trường hợp người yêu cầu trợ giúp pháp lý không tự mình viết đơn được thì người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm điền các nội dung vào mẫu đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, đọc lại đơn cho họ nghe và yêu cầu người đó ký tên hoặc điểm chỉ.

Điều 32. Căn cứ thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý
Vụ việc trợ giúp pháp lý được thụ lý nếu có đủ các căn cứ sau đây:
1. Vụ việc yêu cầu trợ giúp pháp lý phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật này và không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 40 của Luật này;
2. Vụ việc có yêu cầu trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 31 của Luật này.

Điều 33. Thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Khi tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý phải phân công người vào sổ thụ lý và tiến hành kiểm tra các căn cứ thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 32 của Luật này.
2. Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, người tiếp nhận đơn yêu cầu phải kiểm tra đầy đủ các tài liệu, giấy tờ có liên quan. Nếu có đủ các căn cứ thụ lý vụ việc thì vào sổ thụ lý, lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý, thông báo cho người yêu cầu trợ giúp pháp lý và báo cáo tổ chức trợ giúp pháp lý phân công người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp không có đủ căn cứ để thụ lý, người tiếp nhận đơn yêu cầu phải từ chối và thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người yêu cầu trợ giúp pháp lý. Nếu không đồng ý với việc từ chối, người yêu cầu trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại trực tiếp lên người đứng đầu của tổ chức trợ giúp pháp lý đó.
3. Trong trường hợp người yêu cầu trợ giúp pháp lý thiếu những giấy tờ có liên quan đến việc chứng minh là người được trợ giúp pháp lý thì người tiếp nhận đơn yêu cầu phải hướng dẫn người yêu cầu hoàn tất các thủ tục để được trợ giúp pháp lý.
4. Đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến, tổ chức trợ giúp pháp lý có trách nhiệm vào sổ thụ lý, thông báo để người có vụ việc làm đơn theo quy định và hoàn tất các điều kiện để được trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp người có liên quan đến vụ việc không làm đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc không biết được địa chỉ của họ thì việc giải quyết vụ việc được thực hiện theo quy định của pháp luật về trả lời đơn thư. Việc giải quyết vụ việc trong trường hợp này được ghi rõ trong sổ thụ lý.

Điều 34. Thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tiến hành các hoạt động sau đây:
a) Nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc có liên quan đến nội dung và các tình tiết của vụ việc, các quy định của pháp luật có liên quan đến vụ việc;
b) Sử dụng đầy đủ các biện pháp theo quy định của pháp luật để thực hiện trợ giúp pháp lý theo trình tự, thủ tục và phạm vi thẩm quyền;
c) Trong trường hợp cần thiết thì tiến hành các hoạt động nghiệp vụ, thương lượng, hoà giải để giải quyết vụ việc;
d) Kịp thời thông báo cho tổ chức trợ giúp pháp lý về kết quả thực hiện vụ việc và các vấn đề mới phát sinh cần phải giải quyết.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tuân thủ đầy đủ các thủ tục thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với từng hình thức trợ giúp pháp lý được quy định tại các Điều 36, 37 và 38 của Luật này.

Điều 35. Ủy thác, phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Trong trường hợp cần xác minh vụ việc tại địa phương khác, Trung tâm có thể ủy thác cho Trung tâm ở địa phương đó hoặc phối hợp thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý. Trung tâm được ủy thác hoặc được yêu cầu phối hợp có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những việc được ủy thác hoặc yêu cầu phối hợp theo thời hạn yêu cầu.
2. Thời hạn uỷ thác, yêu cầu phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu uỷ thác, phối hợp. Trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
3. Việc ủy thác, phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý phải bằng văn bản, nêu rõ yêu cầu. Văn bản ủy thác xác minh vụ việc hoặc yêu cầu phối hợp phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 36. Thủ tục tư vấn pháp luật
1. Đối với vụ việc đơn giản, thì ngay sau khi được phân công, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tư vấn kịp thời cho người được trợ giúp pháp lý. Nội dung tư vấn phải được thể hiện đầy đủ trong Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý theo mẫu.
Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý được lập thành hai bản, một bản giao cho người được trợ giúp pháp lý và một bản được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.
2. Đối với vụ việc phức tạp, cần có thời gian nghiên cứu hoặc thiếu những giấy tờ, tài liệu có liên quan thì người thực hiện trợ giúp pháp lý phải viết Phiếu hẹn hoặc yêu cầu bổ sung các giấy tờ, tài liệu còn thiếu.
Phiếu hẹn phải ghi rõ ngày, tháng, năm thụ lý vụ việc, ngày, tháng, năm thực hiện vụ việc có chữ ký của người thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc những giấy tờ, tài liệu có liên quan thì trong Phiếu hẹn phải nói rõ những giấy tờ, tài liệu cần bổ sung (nếu có).
Trong thời hạn không quá 07 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ việc, hoặc nhận đủ các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người được phân công thực hiện có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời yêu cầu tư vấn pháp luật bằng văn bản cho người được trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp vụ việc phức tạp cần có thời gian nghiên cứu, xác minh thì thời hạn trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 15 ngày. Văn bản trả lời phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.
3. Đối với các vụ việc tư vấn pháp luật được chuyển đến bằng đường công văn, thư tín thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, tổ chức trợ giúp pháp lý phải phân công người nghiên cứu, trả lời kịp thời bằng văn bản. Văn bản trả lời phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.
4. Việc tư vấn pháp luật phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ phải có đủ các giấy tờ sau đây:
a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý và các giấy tờ, tài liệu do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến (nếu có);
b) Giấy tờ hoặc bản sao Giấy tờ xác nhận là người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 8 của Luật này;
c) Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc văn bản trả lời vụ việc trợ giúp pháp lý;
d) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 37. Thủ tục tham gia tố tụng
1. Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu cử người tham gia tố tụng quy định tại Điều 26 của Luật này, thì trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Trung tâm hoặc tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm cử người tham gia tố tụng. Trong trường hợp cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng để thực hiện bào chữa, Trung tâm hướng dẫn cho người được trợ giúp pháp lý làm giấy uỷ quyền cho trợ giúp viên pháp lý đó.
2. Việc phân công hoặc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý và cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan biết. Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản cử người tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư phải hoàn tất các thủ tục để được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng.
3. Khi tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư được sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng quy định để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư có trách nhiệm báo cáo cho Trung tâm, tổ chức hành nghề luật sư đã phân công biết về nội dung, kết quả vụ việc.
4. Việc tham gia tố tụng phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ phải có đủ các giấy tờ sau đây:
a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;
b) Giấy tờ hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 8 của Luật này;
c) Văn bản cử trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư của Trung tâm, tổ chức hành nghề luật sư;
d) Bản bào chữa trong trường hợp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa; bản luận cứ trong trường hợp tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền lợi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được trợ giúp pháp lý;
đ) Các giấy tờ, tài liệu làm căn cứ xác định vụ việc đang trong quá trình giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng;
e) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 38. Thủ tục đại diện
1. Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu, thì trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư được phân công đại diện cho người được trợ giúp pháp lý và hướng dẫn để người được trợ giúp pháp lý làm giấy ủy quyền.
2. Giấy ủy quyền phải có những nội dung sau đây:
a) Họ tên, địa chỉ của người được trợ giúp pháp lý, người được ủy quyền;
b) Phạm vi ủy quyền, quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền, bên được ủy quyền;
c) Công việc được ủy quyền với những nội dung ủy quyền cụ thể;
d) Trách nhiệm pháp lý của các bên đối với việc ủy quyền.
3. Việc cử người đại diện thực hiện trợ giúp pháp lý phải được lập thành văn bản và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc. Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản cử người đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong phạm vi ủy quyền.
4. Khi thực hiện việc đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm sử dụng các biện pháp luật định trong phạm vi đại diện để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý. Người đại diện thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm báo cáo cho tổ chức trợ giúp pháp lý biết về nội dung, kết quả vụ việc.
5. Việc đại diện phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ phải có đủ các giấy tờ sau đây:
a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;
b) Giấy tờ hoặc bản sao giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 8 của Luật này;
c) Giấy ủy quyền của người được trợ giúp pháp lý cho nguời thực hiện trợ giúp pháp lý;
d) Bản báo cáo của người thực hiện trợ giúp pháp lý về những công việc đã thực hiện trong phạm vi đại diện cho người được trợ giúp pháp lý và tổ chức trợ giúp pháp lý;
đ) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 39. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày hoàn thành vụ việc, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải bàn giao hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý cho tổ chức trợ giúp pháp lý.
2. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý được phân loại theo từng vụ việc, được đánh số, sắp xếp theo thứ tự thời gian, hình thức, lĩnh vực pháp luật trợ giúp pháp lý.
3. Việc lưu giữ, bảo quản hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 40. Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu trợ giúp pháp lý không thuộc diện người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 8 của Luật này;
b) Vụ việc yêu cầu trợ giúp pháp lý không phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật này;
c) Người yêu cầu trợ giúp pháp lý thuộc bên có quyền lợi đối kháng trong cùng một vụ việc với người đang có vụ việc được tổ chức trợ giúp pháp lý thụ lý, trừ trường hợp giải đáp pháp luật;
d) Người yêu cầu trợ giúp pháp lý cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc;
đ) Người yêu cầu trợ giúp pháp lý vi phạm nội quy hoặc có hành vi gây rối trật tự nơi thực hiện trợ giúp pháp lý; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý;
e) Người yêu cầu trợ giúp pháp lý rút đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý.
2. Trong trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải hướng dẫn hoặc giới thiệu người yêu cầu trợ giúp pháp lý đến tổ chức trợ giúp pháp lý khác để được thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý nếu người đó hoặc những thân nhân của người đó có lợi ích liên quan trong vụ việc trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý đã từng là người có thẩm quyền giải quyết vụ việc này hoặc có các lý do chính đáng khác ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ việc.
4. Trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo rõ lý do trực tiếp bằng miệng hoặc bằng văn bản cho người yêu cầu trợ giúp pháp lý.
CHƯƠNG 6: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 41. Trách nhiệm xây dựng đội ngũ cộng tác viên
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, thành viên, hội viên thuộc cơ quan, tổ chức mình có đủ tiêu chuẩn làm cộng tác viên.

Điều 42. Trách nhiệm phối hợp và cung cấp thông tin, tài liệu
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu để giải quyết vụ việc có liên quan đến cơ quan, tổ chức mình khi có yêu cầu của người thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Việc phối hợp và yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu phải bằng văn bản có xác nhận của tổ chức trợ giúp pháp lý.
3. Việc cung cấp những thông tin, tài liệu mật phải tuân thủ nguyên tắc, trình tự bảo mật theo quy định của pháp luật.

Điều 43. Trách nhiệm trả lời kiến nghị trợ giúp pháp lý
1. Việc trả lời kiến nghị trợ giúp pháp lý thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền liên quan trực tiếp đến vụ việc mà người được trợ giúp pháp lý yêu cầu.
2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết vụ việc phối hợp với Trung tâm để bảo đảm giải quyết kịp thời, đúng pháp luật yêu cầu trợ giúp pháp lý, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm của người được trợ giúp pháp lý.
3. Việc trả lời kiến nghị trợ giúp pháp lý của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cho Trung tâm có thể được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 44. Trách nhiệm phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án khi tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp với Trung tâm và tạo điều kiện để Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.
2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn việc phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

Điều 45. Trách nhiệm thông tin về trợ giúp pháp lý
1. Cơ quan thông tin đại chúng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức trợ giúp pháp lý trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý và thông tin về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý.
2. Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Bưu chính - Viễn thông, Bộ Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn việc phối hợp trợ giúp pháp lý và thông tin về trợ giúp pháp lý.
CHƯƠNG 7: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Điều 46. Nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý; nghiên cứu, xây dựng chương trình, chính sách, kế hoạch phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý.
2. Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định về chuyên môn nghiệp vụ, tiêu chuẩn, chế độ chính sách, quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.
3. Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động, thành lập Trung tâm; cấp, thu hồi, thay đổi, bổ sung Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý; xây dựng các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý của Nhà nước và hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức, đoàn thể xã hội, tổ chức hành nghề luật sư.
4. Xây dựng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý khác; ấn hành các tài liệu về trợ giúp pháp lý.
5. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý.
6. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và điều kiện vật chất khác cho hoạt động trợ giúp pháp lý của Nhà nước; xây dựng, quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý.
7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
8. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

Điều 47. Cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở địa phương.
CHƯƠNG 8: XỬ LÝ VI PHẠM, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ


Điều 48. Xử lý vi phạm
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý hoặc người khác có một trong các hành vi quy định tại Điều 7 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 12 của Luật này, nếu có hành vi quy định tại các khoản 1, 3, 6 và 7 Điều 7 của Luật này mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý mà còn vi phạm thì bị thu hồi Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc có hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động trợ giúp pháp lý hoặc vi phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

Điều 49. Khiếu nại, tố cáo.
1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về việc cấp hoặc từ chối cấp, thay đổi, bổ sung, thu hồi Giấy đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức trợ giúp viên pháp lý; công nhận hoặc không công nhận cộng tác viên, chế độ chính sách khi thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý khi có căn cứ cho rằng việc làm đó có vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý quy định tại khoản này thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
2. Người yêu cầu trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại đối với việc từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý, rút hoặc thay đổi yêu cầu trợ giúp pháp lý, việc thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm, của trợ giúp viên pháp lý, của cộng tác viên khi có căn cứ cho rằng việc làm đó là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên do Trung tâm quản lý. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Trung tâm thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp, người khiếu nại được yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm các quy định của Luật này. Việc giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 50. Giải quyết yêu cầu, kiến nghị
1. Người yêu cầu trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với việc từ chối trợ giúp pháp lý, từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý, rút hoặc thay đổi yêu cầu trợ giúp pháp lý, việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức tư vấn pháp luật, của tư vấn viên pháp luật khi có căn cứ cho rằng việc làm đó là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, người đứng đầu tổ chức tư vấn pháp luật có trách nhiệm giải quyết yêu cầu, kiến nghị có liên quan.
Nếu người có yêu cầu, kiến nghị không đồng ý thì người đứng đầu tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật giải quyết yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định tại Điều lệ của tổ chức mình.
Nếu vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết yêu cầu, kiến nghị của tổ chức chủ quản, người yêu cầu, kiến nghị được yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý yêu cầu, kiến nghị hoặc khiếu nại đối với tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư về hoạt động trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về luật sư.
CHƯƠNG 9: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH


Điều 51. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.

Không có nhận xét nào: